TP HCM ƯU TIÊN DỰ ÁN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO

Thành phố ưu tiên các dự án ứng dụng khoa học công nghệ và đánh giá lại những ngành công nghiệp có ảnh hưởng môi trường, thâm dụng lao động.

Tham dự duyệt kế hoạch năm 2021 tại Sở Khoa học và Công nghệ sáng 16/3, Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thành Phong yêu cầu sở phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát lại các dự án đầu tư tại thành phố sắp hết hiệu lực. Ban quản lý Khu công nghiệp Khu chế xuất, Ban quản lý Khu công nghệ cao cùng tham gia đánh giá mức độ ứng dụng khoa học công nghệ, tỷ lệ thâm dụng lao động ở các doanh nghiệp hiện nay.

Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thành Phong phát biểu tại hội nghị duyệt kế hoạch năm 2021 sáng 16/3. Ảnh: Hà An.
Theo đánh giá của ông Phong, thực tế tại Khu công nghệ cao đã thu hút được các doanh nghiệp lớn như Samsung, Intel… tuy nhiên lực lượng lao động phổ thông vẫn ở mức cao, khoảng 60%. Ông cho rằng, thành phố chủ trương mời gọi doanh nghiệp đầu tư là nhu cầu thực tế. Tuy nhiên không phải tất cả doanh nghiệp mà cần chọn lọc lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, gắn với cơ cấu phát triển thành phố.
Người đứng đầu chính quyền TP HCM dẫn chứng hiện có hơn 110 quốc gia đầu tư vào thành phố, trong đó Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… có nhiều dự án. Điển hình như Hàn Quốc có hơn 2.000 dự án, quốc gia ít thì có 2 đến 3 dự án. Hơn 15 năm trước, nhu cầu đầu tư của thành phố rất lớn, doanh nghiệp nào có nhu cầu, lập tức được mời vào các khu công nghiệp, khu chế xuất. Nhưng hiện tại, đã đến lúc thành phố cần cân nhắc lại với những lĩnh vực đầu tư ảnh hưởng đến môi trường, thâm dụng lao động.
“Tôi yêu cầu các sở ngành cần tính toán lại trong mời gọi đầu tư, ưu tiên hơn cho các dự án ứng dụng khoa học công nghệ”, ông Phong nêu quan điểm và cho rằng khoa học công nghệ cần “thấm sâu” vào quản lý, đời sống kinh tế xã hội của thành phố.
Báo cáo với lãnh đạo thành phố, ông Nguyễn Việt Dũng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM cho biết, ngành đặt mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của khoa học công nghệ thông qua chỉ số TFP trên 42% vào GRDP. Đầu tư từ ngân sách thành phố năm 2021 khoa học công nghệ đạt 2% tổng chi ngân sách.
Trong nhiệm vụ tái cấu trúc các chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, Sở Khoa học và Công nghệ đặt mục tiêu ưu tiên cho 6 chương trình nằm nâng cao tiềm lực cho TP HCM giai đoạn 2021 – 2025 gồm: Chương trình ứng dụng đô thị thông minh và chuyển đổi số, chương trình phát triển công nghệ công nghiệp, chương trình nghiên cứu chăm sóc sức khỏe, chương trình nông nghiệp công nghệ cao, chương trình quản lý và phát triển đô thị, chương trình vườn ươm khoa học trẻ.
Theo: Vnexpress
Nguồn: https://congnghiepcongnghecao.com.vn/tin-tuc/t23682/tp-hcm-uu-tien-du-an-ung-dung-cong-nghe-cao.html

SMART FACTORY: SẴN SÀNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ MỚI VỚI MẠNG 5G

Mới đây, cả 3 nhà mạng lớn tại Việt Nam là VinaPhone, Viettel và MobiFone đã đồng loạt công bố việc phát sóng và cung cấp thử nghiệm mạng 5G thương mại. 

Trước xu thế dịch chuyển đầu tư FDI của các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới, Việt Nam đang là điểm đến sáng giá để đầu tư sản xuất. Đây chính là thời điểm quan trọng để các doanh nghiệp học hỏi và ứng dụng công nghệ vào hệ thống nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh.

Smart Factory: Sẵn sàng chuyển giao công nghệ mới với mạng 5G

Yêu cầu kết nối trong nhà máy thông minh

Đặc điểm quan trọng nhất của một nhà máy thông minh là việc kết nối. Smart Factory yêu cầu các quá trình sản xuất cơ bản và nguyên vật liệu cần phải được kết nối để tạo ra các dữ liệu cần thiết giúp đưa ra quyết định kịp thời.

Các nhà máy trước đây chứa rất nhiều máy móc, mỗi thiết bị thực hiện một nhiệm vụ riêng biệt. Trong khi đó, nhà máy thông minh tập hợp các thiết bị này tạo thành một mạng lưới nhiều lớp chia sẻ dữ liệu. Lớp thấp nhất kiểm soát chức năng của từng máy riêng lẻ (Machine), lớp ở giữa kết nối các thiết bị trong cùng hệ thống nhà xưởng, và lớp cao nhất, được gọi là cấp doanh nghiệp, kiểm soát toàn bộ hệ thống sản xuất (MES). Lớp trên cùng này không chỉ tập hợp sản xuất mà còn kiểm soát chuỗi cung ứng, nhu cầu bảo trì và hậu cần của toàn bộ cơ sở để kết nối các hoạt động một cách hoàn hảo trong các ứng dụng công nghiệp khắt khe ngày nay.

Nhờ vậy, smart factory có thể chia sẻ thông tin lên và xuống của tổ chức. Máy móc có thể truy xuất và xử lý dữ liệu liên tục về hiện trạng và giúp dự đoán các yêu cầu bảo trì. Việc sử dụng nguyên liệu thô có thể được theo dõi trong thời gian thực, cho phép hệ thống ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt và dừng dây chuyền. Luồng dữ liệu cũng cho phép nhà sản xuất thực hiện các thay đổi nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Nguồn: https://www.biendongco.vn/

Mạng 5G mang đến cho các nhà sản xuất cơ hội xây dựng nhà máy thông minh và khai thác các công nghệ như tự động hóa (Automation), AI, AR và IoT(Internet of Things).

Công nghệ 5G mới sẽ cách mạng hóa môi trường sản xuất, nhưng yêu cầu hệ thống phần cứng phải phát triển tương ứng với các cảm biến đủ mạnh và đảm bảo tính đơn giản, dễ dàng lắp đặt, bảo trì. Bên cạnh đó, hạ tầng cần phải đáp ứng yêu cầu kết nối liên tục, giảm thiểu độ trễ và đảm bảo an toàn dữ liệu doanh nghiệp, bao gồm cả an ninh mạng và vật lý.

Vai trò của mạng 5G trong nhà máy thông minh

Các nhà sản xuất lớn đã nhanh chóng nhận thấy những triển vọng hấp dẫn mà 5G có thể mang lại như băng thông cao, tính di động, thân thiện với IoT và bảo mật.

“Với 5G, hiệu suất được cải thiện vượt bậc, bạn hoàn toàn có thể sử dụng nó để thay thế mạng có dây truyền thống. Đó chính là giải pháp tuyệt vời cho nhà máy của bạn” – Patrick Filkins – Nhà phân tích và nghiên cứu cấp cao tại IDC cho hay.

Có lẽ, lợi ích rõ ràng nhất mà 5G mang lại cho các nhà sản xuất là, giống như Wi-Fi, chúng ta có thể xây dựng nhà máy mà không cần đến hệ thống dây cáp, một khoản đầu tư khá tốn kém. Trong khi vẫn đảm bảo việc cung cấp băng thông mạng, phát hiện các trở ngại ảnh hưởng đến tính di động, cấu hình lại robots và dây chuyền lắp ráp khi các dòng sản phẩm được cải tiến.

5G cùng hệ thống Wi-Fi sẽ loại bỏ các dây cáp phức tạp, giảm chi phí vận hành và tăng khả năng thích ứng với băng thông cao và độ trễ cực thấp, ước tính có tốc độ nhanh gấp 100 lần mạng 4G LTE. Công nghệ này cho thấy hiệu quả rõ rệt nhất với các hệ thống điều khiển và tự động hóa công nghiệp, hệ thống thiết kế và lập kế hoạch, các thiết bị hiện trường.

Lời khuyên cho các doanh nghiệp sản xuất muốn ứng dụng 5G

Chia sẻ từ ông Lê Bá Tân, Phó tổng giám đốc công ty Mạng lưới Viettel, phải tới năm 2023-2025, mạng 5G mới phổ biến được như 4G do độ phủ còn hạn hẹp và cần xây dựng thêm nhiều trạm phát sóng mới. Như vậy, đây là thời điểm thích hợp để các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam chuẩn bị để sẵn sàng đón nhận làn sóng chuyển giao công nghệ 5G mới.

Khi 5G được phổ cập rộng rãi, nhà máy của bạn đã sẵn sàng hạ tầng kết nối để đạt hiệu suất hoạt động cao hơn. Nhưng đó cũng là lúc cần suy nghĩ tới các vấn đề lỗ hổng và bảo mật có thể xảy ra. Hãy cân nhắc cách tiếp cận tốt nhất để kích hoạt các ứng dụng và dịch vụ mới.

Smart Factory: Sẵn sàng chuyển giao công nghệ mới với mạng 5G
Nguồn: hpe.com

Theo Jeff Edlund, Giám đốc công nghệ về tổ chức giải pháp và phương tiện truyền thông tại Hewlett Packard Enterprise, các chính sách kiểm soát bảo mật có thể được thực hiện ở mức ứng dụng và dịch vụ của 5G, tiếp cận một cách sát sao hơn so với những gì thường thấy ở Wi-Fi. Ngoài ra, mạng 5G sử dụng mã hóa 256-bit giúp danh tính và vị trí của người dùng đều được bảo mật tốt hơn so với mạng 4G LTE với mã hóa 128-bit.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất có thể liên hệ với Hewlett Packard Enterprise để được tư vấn về cơ sở hạ tầng CNTT trong nhà máy, đảm bảo tính tương thích và khả năng kết nối, giúp việc triển khai 5G đơn giản và dễ dàng hơn. Theo chân những doanh nghiệp tiên phong tiêu biểu, để quan sát, học hỏi và chuẩn bị là cách để đưa tổ chức đến với mạng 5G dù sớm hay muộn.

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp IT cho nhà máy thông minh tại website:https://manufacturingdx.com

An Nhiên

NỀN KINH TẾ SỐ VIỆT NAM TĂNG TRƯỞNG 16%, LỚN NHẤT TRONG KHU VỰC

Theo báo cáo của Google, trong khi toàn thế giới đã trải qua một năm 2020 với một màu xám ảm đạm thì nền kinh tế số Việt Nam nổi lên như một điểm sáng với tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong khu vực (16%).

Theo báo cáo của Google, trong khi toàn thế giới đã trải qua một năm 2020 với một màu xám ảm đạm thì nền kinh tế số Việt Nam nổi lên như một điểm sáng với tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong khu vực (16%).

Đại dịch Covid-19 đã và đang làm thay đổi sâu sắc văn hóa tiêu dùng của khách hàng, họ chọn lựa sản phẩm, tìm kiếm thông tin và ra quyết định mua sắm trực tuyến nhiều hơn. Điều này thúc đẩy các ngành công nghiệp truyền thống tận dụng kỹ thuật số để tiếp cận và phục vụ nhu cầu của khách hàng.

Số người dùng internet và mạng xã hội ở Việt Nam tính tới tháng 1 năm 2021
Số người dùng internet và mạng xã hội ở Việt Nam tính tới tháng 1 năm 2021.

Trong số liệu thống kê từ báo cáo Digital Vietnam in 2021, mức thời gian online của người dùng từ 3,1 giờ tăng lên đỉnh điểm 4,2 giờ trong đại dịch và hiện vẫn ở mức 3,5 giờ mỗi ngày. Thế giới hiện có 7,83 tỷ người trong đó có 5,22 tỷ người dùng điện thoại di động, 4,66 tỷ người sử dụng Internet và 4,2 tỷ (chiếm 53.6%) người sử dụng các mạng xã hội.

Trong khi đó tại Việt Nam, có khoảng 68,17 triệu người Việt Nam trực tuyến (chiếm 70% dân số) thông qua các nền tảng, ứng dụng khác nhau. Đáng chú ý là có tới 65 triệu người trong số họ là người dùng mạng xã hội tích cực (chiếm 67% dân số) và 99% trong số này thường xuyên sử dụng bằng điện thoại di động.

97% người Việt Nam có thói quen truy cập Internet hàng ngày, trong số đó có 95% là xem video. Con số này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng video như một hình thức tiếp thị của thời đại mới.

Thời gian sử dụng internet trên các thiết bị của người Việt Nam
Thời gian sử dụng internet trên các thiết bị của người Việt Nam.

Tầm phủ sóng của các trang mạng xã hội tại Việt Nam đang ngày càng trở nên mạnh mẽ. Trong năm 2019 số người sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam là 62 triệu người. Nhưng tính đến tháng 1 năm 2021, con số này là 72 triệu người. Trong đó, 61 triệu khách hàng có thể được tiếp cận thông qua quảng cáo trên Facebook, 5,4 triệu trên Instagram, 3,3 triệu trên LinkedIn và 1,27 triệu người qua Twitter”.

Không quá khi nói rằng đây là thời kỳ nở rộ của các video trên mạng xã hội, video trở thành “vua nội dung” trên các nền tảng tương tác. Theo thống kê, mỗi ngày, có hơn 4 tỷ lượt xem video trên YouTube, trong khi, con số này ở Facebook là 5 tỷ. Theo các chuyên gia nhận định: Năm 2020, 80% lượng truy cập tới từ các video và trong tương lai không xa, video sẽ chiếm lượng traffic lớn nhất trên Internet.

Các số liệu cho thấy, những video có tính trải nghiệm cao sẽ được khán giả quan tâm nhiều hơn. Những video DIY (Do it Yourself), câu chuyện của người sáng lập, video tự quay kể về những câu chuyện phù hợp… sẽ giúp thương hiệu đến gần hơn với khán giả của mình, gián tiếp giúp cải thiện doanh số bán hàng và xây dựng uy tín lâu dài của thương hiệu.

Để đáp lại Tiktok, Facebook cũng đã cho ra mắt nền tảng Instagram Reels cũng với chức năng gần tương tự. Cuộc cạnh tranh giữa các mạng xã hội sẽ ngày càng trở nên quyết liệt trong những năm tới đây.

Bên cạnh đó, các ứng dụng trên thiết bị di động chiếm một phần không hề nhỏ trong thói quen chia tiêu của người tiêu dùng. Vì thế, các nhà bán lẻ đã tận dụng lợi thế này để quảng cáo sản phẩm của họ. Trên toàn thế giới, các giao dịch qua điện thoại di động ước tính sẽ chiếm gần 75% tổng số giao dịch thương mại điện tử vào năm 2021. Việc áp dụng các chiến lược marketing trên thiết bị di động cũng đang được các doanh nghiệp đẩy mạnh trong năm 2020 để chiếm được nhiều ưu thế trong thị trường hơn. Hiện nay tại Việt Nam, các ứng dụng có lượng truy cập lớn như Shopee, Grab… đã bắt đầu triển khai hoạt động quảng cáo trên nền tảng của họ và hứa hẹn sẽ bùng nổ trong 2021.

Minh Châu

Nguồn:

TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ AI

Ở vị trí đầu tàu về đào tạo, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) của cả nước, TPHCM đã nhanh chóng xác định chiến lược phát triển thành đô thị thông minh, dẫn đầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam từ năm 2018. Trong đó, nghiên cứu triển khai trí tuệ nhân tạo (AI) được xem là nền móng cơ bản để thực hiện mục tiêu trên.

Đảm bảo về lượng lẫn chất

Theo kế hoạch tổng thể về phát triển nguồn lực công nghệ thông tin (CNTT), Việt Nam cần đến 1 triệu nhân lực CNTT vào năm 2020. Con số này nằm trong nội dung Đề án “Sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và truyền thông” được Thủ tướng phê duyệt năm 2010.

Thế nhưng, cả nước hiện chỉ có 177.000 sinh viên đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) CNTT, điện tử, viễn thông hệ chính quy đang theo học tại hơn 400 trường ĐH, CĐ. Khoảng 1/4 số sinh viên đang được đào tạo tại 8 cơ sở đào tạo trọng điểm về CNTT. Cả hệ thống đào tạo hiện chỉ có thể cung cấp khoảng 600.000 lao động CNTT.

Theo thống kê của Viện Chiến lược CNTT (Bộ TT-TT) gần đây, có 72% số sinh viên CNTT không có kinh nghiệm, thực hành; 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm và thiếu kỹ năng mềm. Chỉ khoảng 15% tân cử nhân đáp ứng được yêu cầu. Trong khi, theo Bộ KH-CN, các lĩnh vực trọng tâm CNTT đã thu hút hơn 700 công ty, trong đó có 220 công ty nước ngoài, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, hoặc bên trong các khu công nghệ phần mềm tập trung. Với riêng lĩnh vực AI, có rất ít đơn vị đào tạo.

Sinh viên ngành Công nghệ tự động hóa thực hành điều khiển robot tại phòng thí nghiệm

PGS-TS Vũ Hải Quân, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM, nhìn nhận, hiện nay chưa có một chuyên ngành/nhóm ngành đào tạo chính thức về AI ở bậc ĐH. Phần lớn kiến thức CNTT ĐH tập trung phục vụ mảng gia công phần mềm, vốn là trào lưu của thập niên trước. Chỉ một bộ phận rất nhỏ các môn học có liên quan đến AI, lại chưa được hệ thống hóa hay định hướng nghề nghiệp cụ thể.

Do đó, chúng ta cần cải tổ chương trình đào tạo để thích ứng với làn sóng công nghệ cao trên thế giới, cụ thể là thành lập Khoa AI hay các bộ môn về Thị giác máy tính, Xử lý ngôn ngữ nói, Xử lý ngôn ngữ tự nhiên, Big Data, Robotics…; liên kết doanh nghiệp AI cung cấp chương trình Intership, thực tập và hướng nghiệp, bổ sung trang thiết bị hiện đại cho chương trình AI: cụm server, computing cluster, GPU, robot, thiết bị IoT…, tổ chức hội thi học thuật (challenges) giải quyết các vấn đề về AI trong công nghiệp.

Cần giải pháp mang tính chiến lược

Theo các chuyên gia, để có nguồn nhân lực mang tính chiến lược, TPHCM cùng nhiều bên cần nhận diện thực trạng và các tiền đề quan trọng về nguồn lực KH-CN, nhu cầu thị trường, khả năng triển khai ứng dụng sau nghiên cứu và chủ động đặt vấn đề phát triển đô thị thông minh, khu đô thị sáng tạo; trong đó tập trung ươm mầm tiềm năng AI quốc gia, phát triển nhân tài và từng bước hoàn chỉnh hệ sinh thái AI. Khi tiềm lực về AI và CNTT đủ lớn, TPHCM có thể định hướng phát triển thành một trung tâm dữ liệu của Đông Nam Á tới năm 2030 để vươn tầm khu vực và thế giới.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng đô thị thông minh, khu đô thị sáng tạo, cần vạch ra những chiến lược cả ngắn hạn và dài hạn, trong đó tập trung 3 mũi nhọn: công tác nghiên cứu và đào tạo, nắm bắt công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong nghiên cứu và đào tạo, cần đầu tư vào AI thông qua các quỹ nghiên cứu và hỗ trợ, liên kết chặt chẽ với đối tác trong và ngoài nước để tập trung được thế mạnh tổng hợp vì một trường ĐH hay viện nghiên cứu đơn lẻ không thể gánh vác hết.

Ý tưởng về trường ĐH chia sẻ có thể tập trung cơ sở vật chất nhưng đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau để tận dụng được ưu điểm, thế mạnh của tất cả đơn vị… TPHCM cần có bộ chính sách quy định trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên; thỏa thuận khung quy định vai trò và trách nhiệm của TPHCM và các trường ĐH trong bức tranh toàn cục của đề án. Sau tất cả, mục tiêu chính của công tác này là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao về CNTT và AI.

PGS-TS Vũ Hải Quân cho rằng, tiềm lực các nhóm nghiên cứu mạnh, chuyên sâu sẽ quyết định trực tiếp khả năng thành công trong phát triển AI và định hướng đào tạo nguồn nhân lực. Nhóm nghiên cứu vừa mở đường công nghệ, vừa tham chiếu học thuật, vừa là niềm tin, động lực cho thế hệ trẻ.

Tiêu điểm của chiến lược này gồm tài trợ cho các nhóm nghiên cứu lớn tại TPHCM mảng AI và liên ngành ứng dụng AI chủ chốt… TPHCM cần tạo điều kiện, khuyến khích xây dựng nhóm nghiên cứu AI cho các trường có thế mạnh (trong đó có ĐH Quốc gia TPHCM), mở quỹ đầu tư và phát triển các phòng thí nghiệm về AI, hỗ trợ nghiên cứu khoa học nhằm tạo điều kiện cho cá nhân, nhóm nghiên cứu đi sâu vào nhiều lĩnh vực khác nhau; hướng đến các công bố có uy tín cấp khu vực và quốc tế, nâng cao và khẳng định vị thế của Việt Nam trong giới nghiên cứu quốc tế lĩnh vực AI; tạo ra các cuộc thi học thuật với dữ liệu và bài toán thực tế từ nhu cầu của thành phố, khuyến khích các nhóm nghiên cứu, cá nhân, doanh nghiệp giải quyết về mặt học thuật.

THANH HÙNG

Nguồn: https://www.sggp.org.vn/tao-nguon-nhan-luc-cong-nghe-ai-716742.html

THỰC TẾ ẢO & THỰC TẾ ẢO TĂNG CƯỜNG: CÔNG NGHỆ KHÔNG THỂ THIẾU TRONG THẬP KỶ TIẾP THEO

Theo những nghiên cứu sâu mới nhất về thị trường đầy tiềm năng này, thị trường thực tế ảo tăng cường, thực tế ảo và hỗn hợp (AR – Augumented Reality, VR – Virtual Reality và Mix – Mixed) đang có những cơ hội rất tốt để nở rộ trong thập kỷ tới.

Theo IDTechEx dự đoán, đến năm 2030 thị trường thực tế ảo tăng cường, thực tế ảo và hỗn hợp (AR – Augumented Reality, VR – Virtual Reality và Mix – Mixed) sẽ đạt hơn 30 tỷ đô. Với những hạn chế tương tác vật lý do ảnh hưởng của COVID-19, giao tiếp và tương tác ảo sẽ càng trở nên phổ biến trong nhiều năm tới. Các thiết bị hỗ trợ tương tác trên không gian ảo đã cho thấy chúng đóng một vai trò quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau và đang trở thành công nghệ phổ biến trong tương lai rất gần.
Thông qua phân tích sâu, những báo cáo gần đây nhất của IDTechEx về thực tế ảo và ảo tăng cường đã đưa ra những dự báo về xu hướng thị trường này trong thập kỷ tới.
Theo IDTechEx, trong một thập kỷ tới thị trường AR, VR và MR sẽ đạt hơn 30 tỷ đô.
Theo đó, hai thập kỷ vừa qua đã chứng kiến những bước tiến công nghệ lớn của các sản phẩm thực tế mở rộng (EX – Extended Reality). Đầu những năm 90, một số tai nghe cho phép người dùng xem video trên tai nghe từ một thiết bị bên ngoài. Thập kỷ tiếp theo chứng kiến sự nở rộ các thiết bị như Google Glass Explorer. Những sản phẩm này ngay lập tức gây được tiếng vang, sự kinh ngạc và tán thưởng từ giới chơi công nghệ. Mặc chưa thực sự hoàn thiện, sự ra đời của những sản phẩm này mở đường cho cuộc các mạng sản phẩm thực tế mở rộng.
Trong những thập kỷ tiếp theo, liên tiếp những sản phẩm VR và AR đã được giới thiệu. Vào năm 2019, Magic Leap phát hành sản phẩm đầu tiên của mình sau nhiều năm nghiên cứu.  Tiếp theo, Quest, tai nghe VR không cần kết nối máy tính của Oculus cũng được phát hành. Các sản phẩm này chứng minh sự phát triển của thiết bị VR không kết nối máy tính.
Hai trong số những báo cáo chính của IDTechEx về thị trường này đã cung cấp cái nhìn tổng quan về toàn bộ thị trường, cũng như là góc nhìn chi tiết về những công nghệ quan trọng. Cụ thể, báo cáo “Quang học và màn hình trong AR, VR và MR 2020-2030: Công nghệ, Người chơi và Thị trường” phân tích những công nghệ quan trọng, như quang học và hiển thị, và các yếu tố khiến chúng có thể ứng dụng rộng rãi hơn. Báo cáo cũng đưa ra những phân tích và dự báo phát triển các thị trường quang học và màn hình sử dụng công nghệ AR, VR và MR trong một thập kỷ tới.
Ở khía cạnh khác, báo cáo “Thực tế ảo tăng cường, hỗn hợp và 2020-2030: Dự báo, thị trường và công nghệ” đề cập đến một trong những thị trường quan trọng của tương lai: thị trường AR, VR và MR.
Các sản phẩm VR, MR và AR đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, như quản lý quy trình làm việc hàng ngày và trên dây chuyền sản xuất. Thị trường IDTechEx dự báo đạt trên 30 tỷ USD vào năm 2030 sẽ tác động đến nhiều ngành công nghiệp khác nhau, và những đổi mới trong tương lai sẽ tiếp tục phát triển trên thị trường thiết bị đeo được.
Báo cáo xem xét và phân tích hơn 100 sản phẩm và thông tin chi tiết của hơn 80 công ty để đưa ra kết luận ngắn gọn và chi tiết về tương lai của thị trường này. Báo cáo nghiên cứu thị trường này bao gồm dự báo thị trường, hồ sơ người chơi, khoản đầu tư và danh sách công ty đều được cung cấp.
Thanh Trà biên dịch (Nguồn: IDTechEx)
Nguồn: https://congnghiepcongnghecao.com.vn/tin-tuc/t23616/thuc-te-ao–thuc-te-ao-tang-cuong-cong-nghe-khong-the-thieu-trong-thap-ky-tiep-theo.html

INTERNET VẠN VẬT TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ với mạng internet, thiết bị thông minh, phần mềm điều khiển… được kết nối với nhau tạo thành hệ thống “internet vạn vật” (tiếng Anh là Internet of things) có thể giải quyết nhanh chóng các nhu cầu của con người.

SỰ THÔNG MINH VÀ TÍNH PHỨC TẠP

Cụm từ “Internet vạn vật” được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1999, bởi Kevin Ashton, nhà khoa học sáng lập Trung tâm Nhận dạng tự động (Auto-ID) thuộc Viện Công nghệ Massachusetts – MIT (Mỹ), nơi nghiên cứu, thiết lập các quy chuẩn toàn cầu cho phương thức giao tiếp không dây dùng sóng radio, cũng như một số loại cảm biến khác. Internet vạn vật là một kịch bản kết nối của thế giới, khi mỗi đồ vật, từng con người được cung cấp một định danh của riêng mình và có khả năng truyền tải, trao đổi thông tin, dữ liệu qua mạng duy nhất mà không cần đến sự tương tác trực tiếp giữa người với người hay người với máy tính. Internet vạn vật được phát triển trên cơ sở hội tụ công nghệ không dây, công nghệ vi cơ điện tử và mạng internet, gồm các đối tượng “thông minh” được điều khiển và tương tác với nhau, cung cấp các dịch vụ và giải pháp mà không cần sự can thiệp của con người. Sự xuất hiện của hệ thống này có thể làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của con người trong tương lai không xa. Khi mọi vật được “internet hóa”, người dùng có thể điều khiển chúng từ bất kỳ nơi nào, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian.

Internet vạn vật có hai đặc điểm nổi bật, đó là sự thông minh và tính phức tạp. Tương lai của internet vạn vật là một mạng lưới các thực thể thông minh có khả năng tự tổ chức và hoạt động riêng lẻ tùy theo tình huống, môi trường; đồng thời, liên lạc được với nhau để trao đổi thông tin, xử lý dữ liệu. Việc kết hợp trí tuệ nhân tạo đã giúp các thiết bị, máy móc, phần mềm thu thập và phân tích các dấu vết điện tử của con người khi chúng ta tương tác với những thứ thông minh, từ đó phát hiện ra tri thức mới liên quan tới cuộc sống, môi trường, các mối tương tác xã hội cũng như hành vi của con người. Đồng thời, các thực thể, máy móc trong hệ thống này sẽ phản hồi dựa trên các sự kiện diễn ra theo thời gian thực. Bên cạnh đó, hệ thống này có tính chất phức tạp bởi bao gồm một lượng lớn các đường liên kết giữa những thiết bị, máy móc, dịch vụ và không ngừng phát triển bởi khả năng thêm vào các nhân tố mới. Một mạng lưới internet vạn vật có thể chứa từ 50 đến 100 nghìn tỷ đối tượng được kết nối và có thể theo dõi sự di chuyển của từng đối tượng.

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN

Theo thống kê của giới chuyên gia công nghệ, trên thế giới hiện có khoảng 11 tỷ thiết bị được kết nối internet và trung bình mỗi giây có thêm 80 thiết bị mới được nối mạng. Tuy nhiên, hiện vẫn còn tới 99% sự vật trong thế giới vật lý chưa được tích hợp internet và con người vẫn đang tiếp tục hành trình “kết nối những gì chưa được kết nối”. Theo dự báo đến năm 2025, có khoảng 50 tỷ đồ vật được kết nối internet, trong đó có hàng tỷ thiết bị di động, hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển vượt trội đối với internet vạn vật, bao gồm những lĩnh vực nổi bật sau:

Quản lý năng lượng thông minh: Đây là một trong những mục tiêu hàng đầu khi phát triển internet vạn vật. Trong cuộc sống, con người sử dụng rất nhiều năng lượng tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn năng lượng này không phải vô hạn và có thể tái tạo. Theo đó, bài toán đặt ra là làm thế nào để tối ưu hóa mức tiêu thụ năng lượng của các thiết bị, và một trong các giải pháp là làm cho các thiết bị đó trở nên thông minh hơn, có khả năng nhận biết môi trường xung quanh, lập lịch và điều khiển từ xa. Các hệ thống chiếu sáng có khả năng cảm nhận được môi trường xung quanh để điều chỉnh thời gian bật, tắt phù hợp. Hệ thống tưới nước thông minh có thể theo dõi diễn biến của thời tiết để thiết lập lịch trình và tự động tưới chính xác lượng nước vào đúng thời điểm thích hợp nhằm tiết kiệm điện, nước…

Giao thông thông minh: Hiện nay, tại các thành phố lớn, vấn đề quản lý, điều hành giao thông trở nên phức tạp bởi mật độ phương tiện tăng cao vào giờ cao điểm, hoặc do thời tiết xấu làm ảnh hưởng tới việc di chuyển của các phương tiện dẫn tới tình trạng ùn tắc đường. Nhờ internet vạn vật, người ta có thể quản lý, điều hành giao thông đơn giản, hiệu quả hơn. Các bộ cảm biến sẽ cho biết tình trạng mặt đường, mật độ phương tiện đang lưu thông và cảnh báo trước khả năng ùn tắc cục bộ để điều chỉnh phân luồng, thời gian cho đèn tín hiệu giao thông. Ngoài ra, xe ô tô tự hành cũng có khả năng theo dõi thời tiết, tình trạng giao thông để tính toán thời gian cũng như xác định tuyến đường để tránh ùn tắc.

Mô hình nhà thông minh. Ảnh: Internet

Nhà thông minh: Đây là một trong những ứng dụng phổ biến nhất của internet vạn vật, khi tất cả thiết bị trong nhà đều có thể được kết nối với nhau và với mạng internet. Qua ứng dụng trên các thiết bị, như: điện thoại thông minh, máy tính… người sử dụng có thể điều khiển, lập lịch, giám sát hoạt động của mọi thiết bị trong nhà. Khi chúng ta về đến nhà, cửa sẽ tự động mở, đèn tự sáng, rèm được kéo ra, tivi sẽ tự bật kênh yêu thích. Các thiết bị thông minh trong nhà cũng có thể tự thay đổi nhiệt độ trong phòng tùy theo cảm ứng nhiệt độ ngoài trời, hoặc theo ý muốn người sử dụng. Chúng ta cũng không phải lo lắng khi ra ngoài mà quên chưa khóa cửa bởi sự ra đời của các loại khóa cửa thông minh, có thể mở hoặc khóa bằng các thiết bị di động.

Thiết bị y tế thông minh: Các trang, thiết bị này có thể giúp các bệnh viện giải quyết các tình huống như hội chẩn các ca mổ phức tạp, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia mổ từ xa. Các thiết bị theo dõi sức khỏe, kiểm soát huyết áp, nhịp tim, đường huyết… hỗ trợ các bác sỹ điều trị, kiểm soát chế độ ăn uống sinh hoạt của người bệnh. Công nghệ theo dõi (tracking) kết hợp với công nghệ nhận dạng (identification) có thể giúp giảm thiểu sai sót trong quá trình khám, chữa bệnh, như: tránh uống hoặc tiêm nhầm thuốc, nhầm liều, điều trị sai phác đồ, theo dõi tình trạng sức khỏe bệnh nhân sau điều trị… Internet vạn vật còn giúp cảnh báo, khoanh vùng dịch bệnh thông qua các cảm biến theo dõi, giám sát thông tin dịch tễ của người bệnh.

Lĩnh vực quốc phòng – an ninh: Internet vạn vật cung cấp khả năng giám sát hệ thống cảnh báo quốc gia, giúp người chỉ huy nhận biết tổng quan về môi trường tác chiến, v.v.. Dựa trên nguyên lý hoạt động của internet vạn vật, hàng loạt vũ khí, trang bị không người lái đã và đang được sản xuất, làm thay đổi diện mạo các cuộc chiến tranh hiện đại. Tuy nhiên, “mặt trái” của internet vạn vật cũng đặt ra một số vấn đề về an ninh – quốc phòng mà các nhà khoa học quân sự đang tập trung giải quyết. Đó là vấn đề kiểm soát, bảo mật thông tin cá nhân, bí mật quân sự; vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao để làm chủ và khai thác hiệu quả các loại vũ khí, trang bị đang ngày càng trở nên “thông minh” hơn, được lập trình và điều khiển từ xa.

Tiềm năng kinh tế: Theo dự báo của giới chuyên gia tài chính, internet vạn vật sẽ mang lại lợi nhuận về kinh tế lên tới 19 nghìn tỷ USD vào năm 2024 và góp phần gia tăng 21% lợi nhuận cho các doanh nghiệp trên toàn cầu từ nay đến năm 2025. Internet vạn vật hiện là một trong những lĩnh vực màu mỡ, dễ sinh lời cho các nhà sản xuất thiết bị, phát triển phần mềm.

CÁC LĨNH VỰC CẦN NGHIÊN CỨU

Sự phát triển bùng nổ của internet vạn vật là xu thế tất yếu, do vậy, để bắt kịp tốc độ phát triển, tăng cường lợi ích và hạn chế những tác động không mong muốn, các quốc gia đang thúc đẩy nghiên cứu tập trung vào một số lĩnh vực sau:

Đạo đức thông tin: Trong thời đại công nghệ thông tin, các doanh nghiệp hưởng lợi trực tiếp từ việc sở hữu và thu thập thông tin từ người dùng, kể cả những thông tin riêng tư cho mục đích phân tích, giúp doanh nghiệp đạt doanh thu cao hơn. Những thông tin này được thu thập, mã hóa và phân tích vì mục đích không chính đáng đã gây ảnh hưởng và xâm phạm quyền riêng tư của người khác. Việc nghiên cứu và ứng dụng internet vạn vật không chỉ làm thay đổi cách sống của con người hiện đại, mà còn cả cách con người hiểu về bản thân, xã hội, các mối quan hệ, triết lý sống và thế giới quan của họ. Do vậy, vấn đề đạo đức trong ứng dụng internet vạn vật cần phải được đặc biệt coi trọng.

Nghiên cứu kỹ thuật: Nghiên cứu kỹ thuật đối với internet vạn vật rất phức tạp và mang tính chuyên môn cao, như: xác định tần số vô tuyến, khắc phục va chạm và nhiễu các nút thông tin, kỹ thuật địa phương hóa, an ninh mạng và đặc biệt là IPv6 (giao thức liên mạng thế hệ 6 nhằm gia tăng số lượng địa chỉ internet toàn cầu, với chuỗi địa chỉ 128 bit thay cho 32 bit như phiên bản IPv4 hiện nay)…

Nghiên cứu ứng dụng: Có thể chia việc nghiên cứu ứng dụng internet vạn vật làm 4 nhóm chính, gồm: giao thông vận tải và hậu cần; chăm sóc sức khỏe; môi trường thông minh (nhà ở, văn phòng, nhà máy) và cá nhân – xã hội. Trên thực tế, ứng dụng của internet vạn vật còn có thể được chia theo hai nhóm chính: nhóm hiện hữu và nhóm tương lai. Các ứng dụng hiện hữu phù hợp với trình độ khoa học – kỹ thuật sẵn có, còn các ứng dụng tương lai mang tính viễn cảnh mà khoa học – kỹ thuật hiện chưa đủ khả năng thực hiện.

Có thể thấy, phát triển hệ thống internet vạn vật là xu thế tất yếu và hứa hẹn tiềm năng rất lớn, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho đời sống xã hội. Chính vì vậy, việc nghiên cứu phát triển, ứng dụng internet vạn vật nhằm phát huy lợi ích và quản lý, giám sát ngăn ngừa rủi ro cần phải được quan tâm giải quyết ngay từ bây giờ.

HẢI PHONG

Nguồn: http://tapchi.vdi.org.vn/article/2435/internet-van-vat-trong-xa-hoi-hien-ai

CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (TTNT) trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT đến năm 2030.

Chiến lược đặt mục tiêu đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT, đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

Mục tiêu đến năm 2030 đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam; phấn đấu Việt Nam nằm trong nhóm 4 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN và nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT; xây dựng được 10 thương hiệu TTNT có uy tín trong khu vực; phát triển được 03 trung tâm quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao; kết nối được các hệ thống trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao trong nước tạo thành mạng lưới chia sẻ năng lực dữ liệu lớn và tính toán phục vụ TTNT.

Hình thành được 50 bộ dữ liệu mở, liên thông và kết nối trong các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế – xã hội phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT.

Đến năm 2030, Việt Nam hình thành được 3 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về TTNT; có ít nhất 01 đại diện nằm trong bảng xếp hạng nhóm 20 cơ sở nghiên cứu và đào tạo về TTNT dẫn đầu trong khu vực ASEAN…

Để đạt được những mục tiêu trên, Chiến lược đưa ra các định hướng: Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hành lang pháp lý liên quan đến TTNT; phát triển hệ sinh thái TTNT; thúc đẩy ứng dụng TTNT; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TTNT.

Vũ Phương Nhi

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Chien-luoc-quoc-gia-ve-nghien-cuu-ung-dung-tri-tue-nhan-tao/420990.vgp

SẼ NÂNG TẦM HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA

Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tập trung ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ… nhằm cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.   

Chú thích ảnh
Khách tham quan triển lãm các sản phẩm công nghệ tại Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia năm 2019 (Techfest 2019). Ảnh tư liệu: Minh Quyết/TTXVN

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết: Việc xây dựng và đẩy mạnh, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam là quá trình đầu tư lâu dài của Chính phủ cùng với quá trình phát triển của đất nước và doanh nghiệp. Trước mắt, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia và tăng cường sự gắn kết, hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp để đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong sản xuất, kinh doanh; Kết nối các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước, phát huy vai trò của hệ thống các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, gắn kết với các địa phương thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mang lại hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh tế – xã hội các địa phương.

Theo đó, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thực hiện các giải pháp nâng tầm hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia; hình thành và phát triển Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia tại 3 khu vực là: Thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò hạt nhân kết nối, phát triển hệ sinh thái và hình thành mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; khuyến khích sự tương tác, kết nối nguồn lực giữa hệ thống các Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nước và quốc tế. Đồng thời, phát triển 3 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi thế giới và 1 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương đến năm 2025. Đến năm 2030, phát triển 5 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi thế giới và 2 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương.

Ngoài ra, Bộ cũng đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ cao gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị; phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái số với các nền tảng dùng chung, các dịch vụ, mô hình kinh doanh mới; từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế số.

HL (TTXVN)

THỜI CƠ, VẬN HỘI MỚI ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ SỐ, XÃ HỘI SỐ VIỆT NAM

Mùa xuân Tân Sửu này, khi đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, đất nước rộn ràng chuyển mình sang nhịp sống mới, trạng thái bình thường mới, trong đó có nhiều thời cơ, vận hội mới để phát triển nền kinh tế số, xã hội số ở nước ta.

Điểm đến hấp dẫn

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo các bộ, ban, ngành tham dự lễ khai trương Cổng Dịch vụ công quốc gia tại Hà Nội – Ảnh: VGP

Vượt qua muôn vàn khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ về kinh tế số, xã hội số.

Theo báo cáo “Nền kinh tế số Đông Nam Á năm 2019” do Google, Temasek và Bain thực hiện, nền kinh tế số Việt Nam năm 2019 trị giá 12 tỷ USD, cao gấp 4 lần so với giá trị của năm 2015 và dự đoán chạm mốc 43 tỷ USD vào năm 2025. Nhờ có nền kinh tế số mà các ngành nghề kinh doanh sôi động hẳn lên, từ thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến trên các trang mạng xã hội (Facebook, instagram), giải trí (Netflix, Pinterest), giao thông vận tải (Uber, Grab, GoViet) đến phân phối, bán buôn và bán lẻ (Lazada, Shopee)… Cụ thể, quy mô thị trường thương mại điện tử khoảng 5 tỷ USD, trong khi du lịch trực tuyến khoảng 4 tỷ USD, truyền thông trực tuyến đạt 3 tỷ USD, gọi xe công nghệ khoảng 1 tỷ USD. Nước ta cũng trở thành nơi đón nhận nguồn vốn đầu tư đứng thứ 3 trong khu vực vào các công ty hoạt động trên nền tảng công nghệ thông tin, internet; với 0,35 tỷ USD cho 137 thương vụ trong năm 2018 và 0,26 tỷ USD cho 54 thương vụ trong năm 2019. Một số thương vụ đầu tư vào MoMo, Sendo, Topica từ các nhà đầu tư quốc tế, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến tích cực trong xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần tạo nền tảng để phát triển nền kinh tế số, xã hội số. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết Văn phòng Chính phủ đã chủ trì, cùng với các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn công nghệ thông tin, chuyên gia tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và có kết quả cụ thể để thúc đẩy nền kinh tế số và xã hội số tại Việt Nam. Cụ thể như: 1- Trục liên thông văn bản quốc gia được khai trương từ ngày 12/3/2019, đến ngày hết tháng 12/2020 đã kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử giữa 95/95 cơ quan trung ương và địa phương; hơn 3,6 triệu văn bản điện tử, gửi nhận qua Trục, giúp tiết kiệm được trên 1.200 tỷ đồng/năm. 2- Với Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet), chi phí tiết kiệm được khi sử dụng Hệ thống là khoảng 169 tỷ đồng/năm. 3- Sau một năm vận hành chính thức Cổng dịch vụ công quốc gia đã có hơn 2.650 dịch vụ công được tích hợp, cung cấp trên tổng số gần 6.700 thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền. Chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến trên Cổng là hơn 6.700 tỷ đồng/năm. 4- Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kết nối với 14 bộ, cơ quan, 37 địa phương và 106/200 chỉ tiêu kinh tế-xã hội. Chi phí tiết kiệm khi vận hành Hệ thống này khoảng 460 tỷ đồng/năm.

Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, đến nay đã có hơn 23 triệu người dân đã dùng ứng dụng công nghệ để chống dịch COVID-19. Trong lĩnh vực giáo dục, có 53.000 trường học, 1,4 triệu giáo viên, 23 triệu học sinh. 80% học sinh, sinh viên học trực tuyến trong giai đoạn cao điểm của đại dịch COVID-19, cao hơn mức trung bình của các nước là 67,15%.

Tuy nhiên, mức độ chủ động tham gia phát triển nền kinh tế số nước ta còn không ít hạn chế, có phần tự phát. Thể chế, chính sách còn nhiều bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội; hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia mới được hình thành, chưa đồng bộ và hiệu quả. Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp. Kinh tế số có quy mô còn nhỏ. Việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức.

Thời cơ, vận hội mới để phát nền kinh tế số, xã hội số tại Việt Nam

hời cơ, vận hội mới để phát triển xã hội số, kinh tế số – Ảnh minh họa

Đầu tháng 1/2021, Đại hội Đảng lần thứ XIII đã nhất trí thông qua Nghị quyết của Đại hội, khẳng định rõ, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Phát biểu tại Đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số.

Trước đó, tháng 9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong đó nêu rõ, yêu cầu cấp bách phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, Việt Nam thuộc nhóm ít các nước trên thế giới sớm ban hành chiến lược chuyển đổi số quốc gia, chiến lược về một quốc gia số. Với mục tiêu rất cao mà Chương trình đề ra, cần phải quyết liệt phấn đấu mới thực hiện được như: Đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP; năm 2030 chiếm 30% GDP; 50% dân số có tài khoản thah toán điện tử vào năm 2025 và đến năm 2030 là 30% dân số…

Để triển khai thực hiện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cam kết đổi mới, ứng dụng công nghệ mới, thúc đẩy công nghiệp sáng tạo phát triển. Thủ tướng Chính phủ cũng cho phép chấp nhận thử nghiệp sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số trong khi quy định pháp lý chưa đầy đủ, rõ ràng. Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành chức năng có liên quan nghiên cứu, đề xuất ngay chính sách, quy định cụ thể về thuế, phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng, cung cấp các dịch vụ số.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, để chuyển đổi số, Việt Nam có thể chọn chiến lược 3 bước: Bước một, đẩy nhanh việc số hóa các lĩnh vực, các ngành công nghiệp, đẩy nhanh chuyển đổi số chính phủ, chuyển đổi số doanh nghiệp, chuyển đổi số trong xã hội, nhằm tăng hiệu quả hoạt động, tăng năng suất lao động và tạo ra các cơ hội tăng trưởng mới. Bước hai, sử dụng số hóa như một lợi thế cạnh tranh trong nước và toàn cầu. Bước ba, tiến tới nền kinh tế số toàn diện, mọi lĩnh vực được số hóa, hình thành các ngành công nghiệp số thế hệ mới, các ngành công nghiệp mới này sẽ là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế. Đồng thời, mỗi quốc gia muốn phát triển bứt phá vươn lên đều phải khơi dậy được sức mạnh tinh thần của dân tộc. Cuộc cách mạng số, cách mạng công nghiệp 4.0 xảy ra thì tương lai sẽ không nằm trên đường kéo dài của quá khứ. Các nước như Việt Nam có cơ hội bứt phá. Nhưng phải là một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự.

Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, Việt Nam đang sở hữu lợi thế vô cùng to lớn về nguồn lực con người với tư chất thông minh, cần cù và với những chính sách nhất quan Đảng, Chính phủ đã ban hành đã ban hành trong thời gian qua và sắp tới đây là thiên thời, địa lợi cho phát triển kinh tế số, xã hội số. Do vậy, hơn lúc nào hết, trong khi đại dịch COVID-19 diễn biến còn phức tạp, càng  cần tạo ra làn sóng, động lực quốc gia về phát triển kinh tế số và có thể bắt đầu ngay từ mùa xuân Tân Sửu này.

Đây chính là thời cơ mới, vận hội mới cho phát triển kinh tế số, xã hội số, đưa nước ta sớm trở thành quốc gia số, tạo lợi thế trong cạnh tranh toàn cầu, góp phần quan trọng để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội./.

Lê Việt

Nguồn: https://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thoi-co-van-hoi-moi-de-phat-trien-nen-kinh-te-so-xa-hoi-so-Viet-Nam/423215.vgế

VR VÀ AR: XU HƯỚNG CÔNG NGHỆ MỚI TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Công nghệ thực tế ảo (VR), Thực tế ảo tăng cường (AR) là xu hướng mới thời đại thương mại điện tử, giúp các doanh nghiệp thu hút khách hàng, gia tăng doanh số.

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử là thị trường tiềm năng, với số lượng người dùng tăng đột biến. Cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ, thương mại điện tử ngày càng thay đổi, có những bước chuyển mình mạnh mẽ.

Công nghệ thực tế ảo (VR) và Thực tế ảo tăng cường (AR) là xu hướng mới trong thời đại thương mại điện tử, giúp các doanh nghiệp thu hút khách hàng và gia tăng doanh số.

AR giúp tăng trải nghiệm mua sắm của người dùng trong lĩnh vực thời trang.

Xã hội ngày càng phát triển, với những yêu cầu cao hơn, những công nghệ dẫn đầu xu hướng nhanh chóng làm thương mại điện tử có những dấu ấn, niềm tin trong lòng khách hàng.

Mặc dù hình thức mua sắm trên mạng internet trở nên phổ biến, nhưng trong nhiều trường hợp, khách hàng muốn trực tiếp thử sản phẩm. VR và AR đã và đang được khai thác mạnh mẽ.

Chính nhờ sự kết nối thế giới thật với không gian ảo, để tối ưu hóa trải nghiệm của khách hàng, VR và AR đã tạo nên sự thuận tiện trong mua sắm online, nhờ việc thử sản phẩm tại nhiều cửa hàng khác nhau. Bằng cách tận dụng công nghệ mới này, các thương hiệu có thể đem lại nhiều trải nghiệm cho mọi người trên khắp thế giới, ngay cả khi họ không thể ở đó.

VR là siêu phẩm công nghệ, mang theo cách thức mô phỏng những hình ảnh, âm thanh, những cảm nhận thực tế khác khiến khách hàng lạc vào một thế giới tưởng tượng hòn toàn chân thực, dễ dàng hơn khi đưa ra quyết định mua sắm.

Để hòa mình vào không gian VR, người dùng cần một thiết bị để hỗ trợ, phổ biến nhất là kính VR. Kính VR có khả năng tương tác với người dùng, điều khiển được không gian ảo hóa thông qua ngôn ngữ cơ thể.

Thực tế ảo tăng cường (AR) đang vượt lên như là một xu hướng công nghệ thực dụng mới đặc biệt. AR sử dụng một phần của thực tế, thêm vào đó những yếu tố hư cấu để tăng sự trải nghiệm cho khách hàng. AR được triển khai chủ yếu trên các thiết bị di động thông minh.

Đặc biệt, trong lĩnh vực thời trang, AR và VR được đặc biệt chú ý, đầu tư rất nhiều. Nhờ có VR và AR, việc mua sắm thời trang được dễ dàng hơn.

VR cho phép khách hàng có những trải nghiệm tương tự như khi đi đến một cửa hàng, nhưng lại diễn ra tại nhà một cách rất thoải mái.

Trong thiết kế nội thất, ứng dụng sử dụng công nghệ AR cho phép khách hàng chụp ảnh phòng của mình, đặt thử mẫu nội thất có kích thước và màu sắc khác nhau, để trải nghiệm thử trước thay vì phải khiêng đồ thật về, lắp và ướm thử.

AR là những ứng dụng làm chồng thành phần ảo lên môi trường thực tế người dùng. VR lại đưa họ đến với những trải nghiệm hoàn toàn chân thực nhờ những thiết bị hỗ trợ. VR và AR làm cải thiện khả năng nhận biết, thu hút khách hàng online đến với cửa hàng để lựa chọn, trải nghiệm sản phẩm.

Nguyễn Thu Vân – Nguyễn Đăng Hậu

Nguồn: https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/vr-va-ar-xu-huong-cong-nghe-moi-trong-thuong-mai-dien-tu-post216347.gd

Đăng ký nhận thông tin