TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ AI

Ở vị trí đầu tàu về đào tạo, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) của cả nước, TPHCM đã nhanh chóng xác định chiến lược phát triển thành đô thị thông minh, dẫn đầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam từ năm 2018. Trong đó, nghiên cứu triển khai trí tuệ nhân tạo (AI) được xem là nền móng cơ bản để thực hiện mục tiêu trên.

Đảm bảo về lượng lẫn chất

Theo kế hoạch tổng thể về phát triển nguồn lực công nghệ thông tin (CNTT), Việt Nam cần đến 1 triệu nhân lực CNTT vào năm 2020. Con số này nằm trong nội dung Đề án “Sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và truyền thông” được Thủ tướng phê duyệt năm 2010.

Thế nhưng, cả nước hiện chỉ có 177.000 sinh viên đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) CNTT, điện tử, viễn thông hệ chính quy đang theo học tại hơn 400 trường ĐH, CĐ. Khoảng 1/4 số sinh viên đang được đào tạo tại 8 cơ sở đào tạo trọng điểm về CNTT. Cả hệ thống đào tạo hiện chỉ có thể cung cấp khoảng 600.000 lao động CNTT.

Theo thống kê của Viện Chiến lược CNTT (Bộ TT-TT) gần đây, có 72% số sinh viên CNTT không có kinh nghiệm, thực hành; 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm và thiếu kỹ năng mềm. Chỉ khoảng 15% tân cử nhân đáp ứng được yêu cầu. Trong khi, theo Bộ KH-CN, các lĩnh vực trọng tâm CNTT đã thu hút hơn 700 công ty, trong đó có 220 công ty nước ngoài, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, hoặc bên trong các khu công nghệ phần mềm tập trung. Với riêng lĩnh vực AI, có rất ít đơn vị đào tạo.

Sinh viên ngành Công nghệ tự động hóa thực hành điều khiển robot tại phòng thí nghiệm

PGS-TS Vũ Hải Quân, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM, nhìn nhận, hiện nay chưa có một chuyên ngành/nhóm ngành đào tạo chính thức về AI ở bậc ĐH. Phần lớn kiến thức CNTT ĐH tập trung phục vụ mảng gia công phần mềm, vốn là trào lưu của thập niên trước. Chỉ một bộ phận rất nhỏ các môn học có liên quan đến AI, lại chưa được hệ thống hóa hay định hướng nghề nghiệp cụ thể.

Do đó, chúng ta cần cải tổ chương trình đào tạo để thích ứng với làn sóng công nghệ cao trên thế giới, cụ thể là thành lập Khoa AI hay các bộ môn về Thị giác máy tính, Xử lý ngôn ngữ nói, Xử lý ngôn ngữ tự nhiên, Big Data, Robotics…; liên kết doanh nghiệp AI cung cấp chương trình Intership, thực tập và hướng nghiệp, bổ sung trang thiết bị hiện đại cho chương trình AI: cụm server, computing cluster, GPU, robot, thiết bị IoT…, tổ chức hội thi học thuật (challenges) giải quyết các vấn đề về AI trong công nghiệp.

Cần giải pháp mang tính chiến lược

Theo các chuyên gia, để có nguồn nhân lực mang tính chiến lược, TPHCM cùng nhiều bên cần nhận diện thực trạng và các tiền đề quan trọng về nguồn lực KH-CN, nhu cầu thị trường, khả năng triển khai ứng dụng sau nghiên cứu và chủ động đặt vấn đề phát triển đô thị thông minh, khu đô thị sáng tạo; trong đó tập trung ươm mầm tiềm năng AI quốc gia, phát triển nhân tài và từng bước hoàn chỉnh hệ sinh thái AI. Khi tiềm lực về AI và CNTT đủ lớn, TPHCM có thể định hướng phát triển thành một trung tâm dữ liệu của Đông Nam Á tới năm 2030 để vươn tầm khu vực và thế giới.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng đô thị thông minh, khu đô thị sáng tạo, cần vạch ra những chiến lược cả ngắn hạn và dài hạn, trong đó tập trung 3 mũi nhọn: công tác nghiên cứu và đào tạo, nắm bắt công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong nghiên cứu và đào tạo, cần đầu tư vào AI thông qua các quỹ nghiên cứu và hỗ trợ, liên kết chặt chẽ với đối tác trong và ngoài nước để tập trung được thế mạnh tổng hợp vì một trường ĐH hay viện nghiên cứu đơn lẻ không thể gánh vác hết.

Ý tưởng về trường ĐH chia sẻ có thể tập trung cơ sở vật chất nhưng đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau để tận dụng được ưu điểm, thế mạnh của tất cả đơn vị… TPHCM cần có bộ chính sách quy định trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên; thỏa thuận khung quy định vai trò và trách nhiệm của TPHCM và các trường ĐH trong bức tranh toàn cục của đề án. Sau tất cả, mục tiêu chính của công tác này là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao về CNTT và AI.

PGS-TS Vũ Hải Quân cho rằng, tiềm lực các nhóm nghiên cứu mạnh, chuyên sâu sẽ quyết định trực tiếp khả năng thành công trong phát triển AI và định hướng đào tạo nguồn nhân lực. Nhóm nghiên cứu vừa mở đường công nghệ, vừa tham chiếu học thuật, vừa là niềm tin, động lực cho thế hệ trẻ.

Tiêu điểm của chiến lược này gồm tài trợ cho các nhóm nghiên cứu lớn tại TPHCM mảng AI và liên ngành ứng dụng AI chủ chốt… TPHCM cần tạo điều kiện, khuyến khích xây dựng nhóm nghiên cứu AI cho các trường có thế mạnh (trong đó có ĐH Quốc gia TPHCM), mở quỹ đầu tư và phát triển các phòng thí nghiệm về AI, hỗ trợ nghiên cứu khoa học nhằm tạo điều kiện cho cá nhân, nhóm nghiên cứu đi sâu vào nhiều lĩnh vực khác nhau; hướng đến các công bố có uy tín cấp khu vực và quốc tế, nâng cao và khẳng định vị thế của Việt Nam trong giới nghiên cứu quốc tế lĩnh vực AI; tạo ra các cuộc thi học thuật với dữ liệu và bài toán thực tế từ nhu cầu của thành phố, khuyến khích các nhóm nghiên cứu, cá nhân, doanh nghiệp giải quyết về mặt học thuật.

THANH HÙNG

Nguồn: https://www.sggp.org.vn/tao-nguon-nhan-luc-cong-nghe-ai-716742.html

CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (TTNT) trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT đến năm 2030.

Chiến lược đặt mục tiêu đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT, đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

Mục tiêu đến năm 2030 đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam; phấn đấu Việt Nam nằm trong nhóm 4 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN và nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT; xây dựng được 10 thương hiệu TTNT có uy tín trong khu vực; phát triển được 03 trung tâm quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao; kết nối được các hệ thống trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao trong nước tạo thành mạng lưới chia sẻ năng lực dữ liệu lớn và tính toán phục vụ TTNT.

Hình thành được 50 bộ dữ liệu mở, liên thông và kết nối trong các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế – xã hội phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT.

Đến năm 2030, Việt Nam hình thành được 3 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về TTNT; có ít nhất 01 đại diện nằm trong bảng xếp hạng nhóm 20 cơ sở nghiên cứu và đào tạo về TTNT dẫn đầu trong khu vực ASEAN…

Để đạt được những mục tiêu trên, Chiến lược đưa ra các định hướng: Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hành lang pháp lý liên quan đến TTNT; phát triển hệ sinh thái TTNT; thúc đẩy ứng dụng TTNT; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TTNT.

Vũ Phương Nhi

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Chien-luoc-quoc-gia-ve-nghien-cuu-ung-dung-tri-tue-nhan-tao/420990.vgp

NỀN TẢNG CÔNG NGHỆ NÀO SẼ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VƯỢT QUA ĐẠI DỊCH COVID?

Đại dịch đã trở thành chất xúc tác khiến nhiều xu hướng công nghệ quan trọng hình thành, ứng dụng mạnh mẽ, bao gồm thương mại điện tử, tự động hóa và tối ưu hóa chuỗi cung ứng…

Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục tác động nặng nề, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những thay đổi, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số.

Tự động hóa thông minh, robot, trí tuệ nhân tạo (AI) kết hợp với máy học và các giải pháp phân tích dự báo… đang là những nền tảng công nghệ hàng đầu mà các doanh nghiệp cần ưu tiên ứng dụng để vượt khó khăn, phát triển ổn định trong một trạng thái “bình thường mới”, duy trì lợi nhuận và có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Theo phân tích của các chuyên gia, đại dịch đã trở thành chất xúc tác khiến nhiều xu hướng công nghệ quan trọng hình thành, ứng dụng mạnh mẽ, bao gồm thương mại điện tử, tự động hóa và tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Do đó, việc tích hợp các giải pháp công nghệ mới nhằm duy trì hoạt động và lợi nhuận, cũng như tối ưu hóa công việc để hỗ trợ liên tục nhu cầu cao điểm và ngăn ngừa sự gián đoạn chuỗi cung ứng sẽ trở nên vô cùng cần thiết cho thành công trong kinh doanh của các doanh nghiệp.

TỰ ĐỘNG HOÁ, AI TRONG CÁC NGÀNH SẢN XUẤT VÀ LOGISTICS 

Trong báo cáo nghiên cứu về các xu hướng công nghệ doanh nghiệp hàng đầu cho năm 2021 vừa được hãng Zebra Technologies công bố cuối tuần qua đã chỉ ra các xu hướng công nghệ hàng đầu cho doanh nghiệp trong năm 2021 trong đó nhấn mạnh đến công nghệ tự động hóa thông minh, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot.

Theo phân tích của hãng này, tự động hóa thông minh đã được hỗ trợ bởi các công cụ trợ lý ảo trên thị trường người tiêu dùng như Alexa và Siri. Các doanh nghiệp đang từng bước thu được những thành công ban đầu trong việc áp dụng loại công nghệ máy học này để cải thiện quy trình làm việc, giao hàng và trải nghiệm của khách hàng.

Ngoài ra, AI có thể cải thiện khả năng đề xuất hành động tiếp theo tốt nhất cho các doanh nghiệp, còn các công nghệ AI và robot đang đưa tự động hóa thông minh trở thành một phần của Internet vạn vật (IoT) và xu hướng Công nghiệp 4.0. Do đó, dự kiến việc áp dụng công nghệ AI trong ngành sản xuất và hậu cần kho vận (logistics) sẽ gia tăng vào năm 2021.

Bên cạnh đó, các chuyên gia hãng này cũng cho rằng, việc chuyển dịch sang mua sắm trực tuyến đã có một bước nhảy vọt, thúc đẩy thương mại điện tử tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 2020 là thời điểm lên ngôi của thương mại điện tử, hiện được dự báo sẽ chiếm 28% doanh số của chuỗi bán lẻ trên toàn cầu. Điều này rút ngắn quá trình chuyển dịch sang thương mại trực tuyến khoảng 3 năm, buộc các nhà bán lẻ phải nhanh chóng thích ứng bằng cách hợp lý hóa các cửa hàng, hoàn tất đơn hàng và hậu cần để có năng suất cao hơn khi họ phải đối mặt với những thách thức về lợi nhuận liên quan đến việc xử lý đơn hàng thương mại điện tử.

Trong lĩnh vực chuỗi cung ứng và kho hàng, các công nghệ tự động hóa vật lý, nhận dạng qua tần số vô tuyến RFID và công nghệ cảm biến nhiệt độ – kết hợp với sự phát triển của robot, bao gồm cả robot có khả năng giao tiếp và làm việc cộng tác với con người (cobot) có thể giúp các trung tâm hoàn tất đơn hàng nâng cao hiệu quả hoạt động của thương mại điện tử.

Tự động hóa thông minh hay sự kết hợp giữa công nghệ RPA và AI để thực hiện việc tự động hóa một chiều hoặc nhiều quy trình nhanh chóng, giúp DN bứt phá trong quá trình chuyển đổi số. Hãng Gartner đánh giá công nghệ này sẽ trở thành xu hướng số 1 trên thế giới trong năm 2021 với những tác động và giá trị to lớn. Trong năm 2019, lĩnh vực này được định giá 3,5 tỷ USD nhưng dự báo đến năm 2027, con số này sẽ lên đến 25 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng lên đến hơn 40%, cao hơn bất kỳ xu hướng công nghệ nào.

Ở Việt Nam đã có nhiều đơn vị đưa ra các giải pháp về tự động hóa, robot và AI trong đó akabot nổi lên với giải pháp tự động hóa quy trình nghiệp vụ RPA toàn diện đầu tiên tại Việt Nam và nằm trong top 6 nền tảng toàn cầu. Các giải pháp của akaBot có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như tài chính ngân hàng, bán lẻ, sản xuất, logistics… giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí đến 60%, tăng năng suất đến 80% và giảm thời gian xử lý đến 90%.

KHAI THÁC DỮ LIỆU – MỞ RA CƠ HỘI KINH DOANH LỚN 

Trong xu hướng chuyển đổi số, số hóa doanh nghiệp, việc khai thác, phân tích tài nguyên dữ liệu lớn đang bùng nổ sẽ mở ra những cơ hội kinh doanh mới mang lại giá trị lớn cho các doanh nghiệp`. Báo cáo của Zebra nhấn mạnh, dữ liệu là một tài sản vô giá và sức mạnh của nó chỉ được khai phóng nếu được cung cấp đúng lúc, cho đúng người để có kết quả hiệu quả hơn. Việc áp dụng giải pháp phân tích dự báo bằng cách sử dụng dữ liệu gần như thời gian thực sẽ giúp các doanh nghiệp tăng hiệu suất và độ tin cậy của hành động.

Phân tích về những cơ hội từ dữ liệu lớn mang lại, ông Ying Shun Liang, Cố vấn quy trình công nghiệp bộ phận sản xuất, Dassault Systèmes Nam châu Á-Thái Bình Dương cho rằng, khi các nhà sản xuất nghĩ cách gia tăng vận hành hoặc chuyển đổi từ sản xuất quy mô lớn sang quy mô nhỏ hơn và theo hướng sản xuất theo yêu cầu hơn, dữ liệu sẽ trở thành nhân tố đột phá. Dữ liệu lớn đang không ngừng xuất hiện từ các nguồn đầu vào khác nhau, đặc biệt là khi các nhà sản xuất ngày càng ứng dụng IIoT (Internet vạn vật của công nghiệp sản xuất) vào các hoạt động sản xuất và vận hành.

Trước đây, các nhà sản xuất không có dữ liệu để được cảnh báo về những vấn đề tiềm ẩn. Thay vào đó, doanh nghiệp phải đưa ra giả thuyết về một vấn đề trước khi thu thập được dữ liệu để xác thực. Quá trình này đã làm tăng chi phí vận hành khi việc kiểm tra thủ công cho thấy gây tốn kém về chi phí, thời gian và nhân lực. Ngày nay, IIoT giúp các nhà sản xuất nhìn nhận quá trình và sản phẩm với mức độ chi tiết. Dữ liệu có thể được thu thập tại mỗi điểm trong chuỗi cung ứng, mạng lưới sản phẩm và phân phối. Với khả năng phân tích mạnh mẽ dựa trên AI và Học máy (Machine Learning), các nhà sản xuất có thể thu thập thông tin mà họ cần để giải quyết một vấn đề.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp dành hơn 30% thời gian vào các quy trình thủ công, bao gồm tìm kiếm dữ liệu và cập nhật thông tin… ảnh hưởng đến năng suất, kỹ nghệ và lợi nhuận. Chỉ 6% các nhà sản xuất hiện nay đặc biệt tự tin vào hệ thống và khả năng hiển thị đầu cuối của mình.

Trong khi đó, các nhà máy của tương lai có thể kết nối tất cả dữ liệu một cách liền mạch và mở rộng các kết nối đó trên toàn bộ chuỗi cung ứng, cung cấp khả năng hiển thị đầu cuối trên tất cả các quy trình. Điều này giúp mang đến các thông tin chính xác và đưa ra quyết định nhanh hơn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, các nhà sản xuất cũng có thể so sánh dữ liệu của mình với dữ liệu của các nhà máy khác, từ đó liên tục cải tiến để nâng cao sản lượng và hiệu suất.

Trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ đột phá, ông Ying Shun Liang cho rằng, giá trị của dữ liệu lớn tương đương với giá trị của một viên kim cương. Do vậy, các doanh nghiệp không chỉ cần khai thác mà còn phải xử lý dữ liệu thì mới có thể dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh.

Dịch Covid-19 đã trở thành cú hích thúc đẩy tăng tốc quá trình chuyển đổi số. Các khảo sát cho thấy các doanh nghiệp đang từng bước đầu tư vào công nghệ số bao gồm cả robot, trí tuệ nhân tạo (AI) kết hợp với máy học và các giải pháp phân tích dự báo để tăng sức cạnh tranh. Các chuyên gia cho rằng, nếu doanh nghiệp muốn cung cấp những thông tin phân tích chi tiết để nhân viên kinh doanh có thể hành động theo thời gian thực, cần phải ưu tiên áp dụng những công nghệ này trong năm 2021.

Nhĩ Anh

Nguồn: https://vneconomy.vn/nen-tang-cong-nghe-nao-se-ho-tro-doanh-nghiep-vuot-qua-dai-dich-covid-20210316105814869.htm

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGÀNH SẢN XUẤT: NHỮNG THÁCH THỨC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã “giáng đòn chí tử” vào nền kinh tế, đẩy lùi đà phát triển của đa số ngành công nghiệp. Cú sốc này đã làm biến mất hàng triệu doanh nghiệp trên toàn thế giới. Nhưng ở một khía cạnh tích cực khác, sự khốc liệt này lại thay đổi việc vận hành kinh tế cũng như dịch chuyển đầu tư giữa các quốc gia.

Các tập đoàn lớn trên thế giới đưa ra kế hoạch dịch chuyển đầu tư sản xuất từ các quốc gia có nguy cơ dịch bệnh cao sang các nước có môi trường đầu tư an toàn hơn. Việt Nam hiện đang là điểm đến sáng giá trong các bản kế hoạch như vậy. Nhưng làm thế nào để thắng được trên trường quốc tế? Đó không chỉ là bài toán của môi trường đầu tư an toàn mà còn là vấn đề nội lực doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030″ với tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. Điều này đánh thức các doanh nghiệp trong các lĩnh vực từ tài chính ngân hàng, đến y tế, giáo dục và tất nhiên không thể thiếu các doanh nghiệp sản xuất – nền tảng của mọi nền công nghiệp.

Tuy nhiên, một thực tế dễ thấy, dù đồng lòng với mục tiêu xây dựng doanh nghiệp số Việt Nam đủ năng lực đi ra toàn cầu, không ít doanh nghiệp sản xuất không biết bắt đầu từ đâu.

Có thể thấy những thách thức mà các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang phải đối mặt, khi mà công nghệ đang thay đổi mỗi ngày, và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trước tiên, phải kể đến bài toán chi phí. Khi quyết định chuyển đổi số, doanh nghiệp chấp nhận thay đổi quy trình, hệ thống, và cả con người. Điều này đòi hỏi một ngân sách đủ lớn để làm đồng bộ, toàn diện, không chắp vá. Khi chưa nhìn thấy một kết quả rõ ràng, việc đầu tư một ngân sách lớn cho hệ thống khiến chủ doanh nghiệp không khỏi lo lắng.

Tiếp theo là những thách thức về thay đổi tư duy ngay trong doanh nghiệp. Chuyển đổi số không phải là câu chuyện riêng của công nghệ mà là bài toán khó của chính con người, những người làm chủ và vận hành doanh nghiệp. Cho dù sở hữu một hệ thống tiên tiến, hiện đại, nhưng tư duy lối mòn lại trở thành rào cản khiến công nghệ không được khai thác và ứng dụng hiệu quả. Bởi vậy, không ngừng học hỏi là không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn vượt qua rào cản về tư duy.

Cuối cùng, lựa chọn công nghệ phù hợp với doanh nghiệp của mình chính là thách thức lớn thứ ba mà doanh nghiệp phải đối mặt. Những câu chuyện về công nghệ mới cho ngành sản xuất như AI, machine learning, IoT hay Cloud đang tràn ngập trên mặt báo. Nhưng chính giải pháp chuyên sâu, cải tiến liên tục và sự lựa chọn từ quá nhiều nhà cung cấp lại khiến chủ doanh nghiệp phải băn khoăn. Làm thế nào để có giải pháp phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình?

Có thể nói, đây chính là những rào cản lớn nhất khiến các nhà máy sản xuất tại Việt Nam loay hoay tìm cách cải tiến và chuyển đổi.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 1.

Trong hội nghị bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh ngày 28.01, chuyên gia của Hewlett Packard Enterprise đã chia sẻ với các cơ quan bộ ban ngành và lãnh đạo cấp cao tới từ các tập đoàn lớn: “Trước khi vội vàng tìm cách đi trước, dẫn đầu, doanh nghiệp cần phải giải quyết những vấn đề đang tồn tại, từ đó xây dựng giải pháp tối ưu căn cứ vào đặc thù riêng của mình”.

Cụ thể, doanh nghiệp cần có chiến lược chuyển đổi rõ ràng. Điều này có nghĩa là gì? Hãy vạch ra kế hoạch chi tiết cho hành trình chuyển đổi số trong nhà máy sản xuất của mình. Nó sẽ diễn ra trong bao lâu, qua những giai đoạn nào và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp là gì? Hãy lượng hóa mọi tiêu chí, để có một thước đo rõ ràng nhất, thay vì chìm đắm trong viễn cảnh mơ hồ.

Khi đã vẽ được bức tranh tổng thể về hành trình mình sẽ đi, hãy vạch ra phương án tiếp cận theo từng giai đoạn. Căn cứ vào đặc điểm đặc thù của chính doanh nghiệp mình để chia nhỏ các giai đoạn chuyển đổi cho phù hợp. Việc này giúp nhân lực trong nhà máy dễ dàng nhận biết và thích nghi hơn, doanh nghiệp không phải chịu áp lực quá lớn về chi phí ngay từ đầu.

Thu nạp nhân tài trong lĩnh vực CNTT là một yếu tố quan trọng quyết định thành công chuyển đổi số. Bởi lẽ rõ ràng, một hệ thống hiện đại đòi hỏi vận hành bởi những bộ óc đủ thông minh. Một hệ thống sản xuất tự động hóa đòi hỏi một hạ tầng IT đủ mạnh mẽ.

Những công nghệ tiên tiến nhất trong ngành sản xuất, sẽ giúp doanh nghiệp tăng tốc trong hành trình chuyển đổi, tạo năng lực cạnh tranh vượt trội. Ngày nay, data là nguồn sống của doanh nghiệp, vì vậy hãy tận dụng và khai thác tối đa. Thay thế việc bảo trì hệ thống thủ công, theo thời gian định trước bằng việc cập nhật và sửa lỗi tự động, xác định vấn đề trước khi nó xảy ra với công nghệ IoT và deep machine learning.

Chuyển đổi số không phải câu chuyện của riêng quốc gia, ngành nghề hay doanh nghiệp nào. Bản thân HPE trong những năm vừa qua cũng đang không ngừng cải tiến, phát triển, và thử nghiệm để sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI và IoT. Khi đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất như Daido, Seagate hay Leica,…HPE đã xây dựng những giải pháp IT riêng để giải quyết những vấn đề đặc thù mà từng doanh nghiệp đang gặp phải.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 2.

Seagate kết hợp CNTT và OT với hệ thống HPE Apollo, hệ thống hội tụ Edgeline và dịch vụ AI từ HPE Pointnext Services để thúc đẩy việc ra quyết định và đem lại hiệu quả tốt nhất cho chất lượng sản phẩm và hiệu quả quy trình. Trong khi đó, Leica lại cần đến hệ thống máy chủ HPE Moonshot, Moonshot Cartridges và ứng dụng ảo hóa Citrix để quản trị cơ sở hạ tầng tập trung và đơn giản trong trung tâm dữ liệu giúp giảm chi phí một cách lâu bền.

Như vậy, căn cứ vào vấn đề và mục tiêu của từng doanh nghiệp, sẽ có những giải pháp phù hợp khác nhau trên hành trình chuyển đổi số. Mọi vấn đề đều có lời giải đáp, chỉ cần hỏi đúng người. Vượt qua thách thức chính là lúc để lại đối thủ của mình ở phía sau. Bắt đầu hành trình chuyển đổi số ngay hôm nay!

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất của HPE tại Website: manufacturingdx.com

Ánh Dương (theo Nhịp sống kinh tế)

Nguồn: https://cafef.vn/chuyen-doi-so-trong-nganh-san-xuat-nhung-thach-thuc-cho-doanh-nghiep-viet-nam-2021013018420568.chn

NHỮNG XU HƯỚNG CÔNG NGHỆ ĐÁNG CHÚ Ý TRONG NĂM 2021

Trong thế giới hậu COVID-19, công nghệ đã trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống.

Nhân loại đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc trong một loạt công nghệ hướng đến người tiêu dùng, như thanh toán kỹ thuật số, chăm sóc sức khỏe từ xa, hỗ trợ hoạt động sản xuất, robot hoặc thiết bị điều khiển bằng Trí tuệ nhân tạo (AI).

Chú thích ảnh
Robot hỗ trợ xét nghiệm COVID-19 được sử dụng tại bệnh viện Geitawi ở Ashrafieh, Beirut, Liban. (Ảnh: THX/TTXVN)

Theo giới chuyên gia, một số xu hướng trong số đó là không thể đảo ngược và sẽ tiếp tục định hình sự phát triển của lĩnh vực công nghệ toàn cầu trong năm 2021.

An ninh mạng

Việc con người sử dụng ngày càng nhiều các công cụ công nghệ đang bộc lộ những lỗ hổng bảo mật của mạng Internet và của cả những ứng dụng. Những điểm yếu này có thể đe dọa quyền riêng tư của người dùng cá nhân và bảo mật thông tin đối với các doanh nghiệp. Ước tính của công ty nghiên cứu và tư vấn bảo mật Cybersecurity Ventures, thiệt hại do tội phạm mạng gây ra dự kiến có thể lên tới 6.000 tỷ USD vào năm 2021.

Mối đe dọa an ninh mạng gia tăng cùng với nhận thức cao hơn của người dùng về vấn đề bảo mật sẽ làm tăng sự tập trung vào vấn đề bảo mật trên môi trường trực tuyến. Ngoài ra, với khả năng kết nối Internet trở nên phổ biến và rộng rãi hơn, nhu cầu về an ninh mạng sẽ mở rộng từ doanh nghiệp sang cả các cá nhân.

Các quốc gia như Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ có số lượng người sử dụng Internet cao nhất, cũng thuộc nhóm những nước có số cuộc tấn công lừa đảo trực tuyến và phần mềm độc hại cao hàng đầu. An ninh mạng không chỉ giới hạn ở việc đánh cắp dữ liệu, lừa đảo tài chính mà còn là an ninh quốc gia. Do vậy, nhiều Chính phủ đang lên kế hoạch xây dựng các chính sách an ninh mạng mới để bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin, xây dựng khả năng ngăn chặn và ứng phó với các mối đe dọa trên không gian mạng.

Công nghệ chăm sóc sức khỏe từ xa

Đại dịch COVID-19 buộc các nước phải tiến hành các đợt giãn cách xã hội kéo dài, nhưng các bệnh nhân rất khó có thể chờ đợi qua giai đoạn phong tỏa. Do đó, hoạt động tư vấn, khám chữa bệnh từ xa thông qua các phương tiện công nghệ đã tăng vọt, không chỉ về dịch COVID-19 mà còn cho các bệnh mãn tính khác.

Việc “đi khám bệnh” đã thay đổi từ tham gia các cuộc hẹn trực tiếp thành các cuộc gặp trực tuyến với các bác sĩ, dựa vào các ứng dụng như Babylon Health, Ada, WhatsApp và FaceTime. Trong khi đó, nhiều ứng dụng khác như Calm và Headspace đã ghi nhận số người dùng gia tăng mạnh mẽ khi mọi người cố gắng chống lại các tác dụng phụ của việc phong tỏa, chẳng hạn như rối loạn căng thẳng, lo lắng và cô đơn. Các thiết bị điện tử đeo trên người (wearable) đã phát triển tới mức cho phép người dùng theo dõi nồng độ oxy trong máu, đo nhịp tim và điện tâm đồ, phát hiện nếu người dùng bị ngã và theo dõi giấc ngủ của họ.

Sự gia tăng ứng dụng công nghệ và việc thay đổi hành vi của bệnh nhân/người dùng dịch vụ trong mùa dịch đã và sẽ giúp đẩy nhanh sự phát triển của công nghệ chăm sóc y tế từ xa. Và xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong năm 2021.

Các ứng dụng dựa trên điện toán đám mây

Trong năm 2020, thế giới đã trải qua một sự thay đổi không thể đảo ngược khi rất nhiều người phải “di cư” từ văn phòng làm việc truyền thống sang chủ yếu làm việc tại nhà. Tất nhiên, điều đó chỉ có thể khả thi khi người lao động và các doanh nghiệp đẩy mạnh sử dụng các công nghệ dựa trên điện toán đám mây, bao gồm các ứng dụng họp và làm việc trực tuyến.

Cùng với đó, nhu cầu về hoạt động thương mại điện tử và giải trí trực tuyến của người dân cũng tăng vọt trong mùa dịch. Những xu hướng này đang giúp các nền tảng dựa trên đám mây mở rộng sự hiện diện hơn trong năm 2021, thậm chí xa hơn.

Quá trình chuyển đổi số cũng sẽ nhận được nhiều hỗ trợ từ các công nghệ dựa trên điện toán đám mây. Theo dự báo của công ty nghiên cứu thị trường Forrester, 60% công ty sẽ tận dụng các bộ lưu trữ trên nền tảng đám mây công cộng và 25% nhà phát triển sẽ tận dụng khả năng không cần máy chủ của nền tảng công nghệ này vào cuối năm 2021.

Công nghệ blockchain

Phải mất một thời gian dài để công nghệ chuỗi khối (blockchain) thu hút được được sự chú ý. Nhưng khi thế giới ngày càng tin tưởng vào các thuật toán dựa trên công nghệ này, đã đến lúc để blockchain “tỏa sáng”.

Trong năm 2021, blockchain sẽ được đón nhận cởi mở hơn trong việc chia sẻ và bảo mật dữ liệu cho cả hoạt động quản lý, cải thiện chuỗi cung ứng lẫn nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Việc triển khai blockchain quy mô lớn vẫn chưa hoàn toàn thành công trên thế giới, nhưng xu hướng số hóa gia tăng và sự thâm nhập sâu hơn của công nghệ tài chính (Fintech) sẽ tạo môi trường thuận lợi hơn để blockchain được áp dụng trong các chuỗi cung ứng đơn giản.

Bên cạnh đó, các cơ quan chính phủ đang ngày càng tận dụng blockchain cho các hoạt động của mình, thay đổi từ tâm lý hoài nghi sang chấp nhận công nghệ này. Do vậy, các quy định liên quan tới blockchain dự kiến sẽ được xây dựng rõ ràng hơn. Giới quan sát kỳ vọng trong 5 năm tới, việc sử dụng blockchain có thể sẽ dễ dàng như việc tạo tài khoản với một ngân hàng truyền thống.

Mạng 5G

Thế giới đã nghe về những lợi ích của mạng 5G trong nhiều năm nay. Nhưng phải đến khi làm việc từ xa, hội nghị trực tuyến và hợp tác trên các nền tảng kỹ thuật số trở thành những yếu tố cốt lõi trong cuộc sống năm 2020, nhu cầu về một kết nối đáng tin cậy và băng thông rộng  mới trở thành một lợi ích mà nhiều ngượi thực sự cảm nhận được.

Sự phụ thuộc của con người vào điện thoại thông minh, máy tính bảng và các thiết bị khác càng làm nổi bật nhu cầu về đường truyền viễn thông nhiều làn mà các nhà khai thác mạng luôn nhắc tới. Ngày nay, các doanh nghiệp không thể bị ngắt kết nối và việc triển khai mạng 5G đã trở thành một phần quan trọng của giải pháp. Khi thế giới cùng nhau tiếp tục làm việc và học tập từ xa, giá trị của mạng 5G sẽ ngày càng trở nên rõ nét vào năm 2021.

Mặc dù trong giai đoạn đầu, đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn việc triển khai mạng 5G mới. Song những nỗ lực này vẫn được tiếp tục và các thị trường lớn như Trung Quốc đã đạt mục tiêu đạt triển khai 5G vào năm 2020. Trong khi đó, mọi nhà sản xuất thiết bị cầm tay lớn trên thế giới – từ Samsung và Apple đến Xiaomi và Motorola – đã hoặc sắp phát hành các mẫu điện thoại 5G ở nhiều mức giá khác nhau. Còn Qualcomm – công ty thuộc nhóm dẫn đầu trong công nghệ 5G – hứa hẹn sẽ giúp công nghệ này có giá cả phải chăng cho nhiều người dùng nhất có thể trong năm tới.

Năm 2020 và đại dịch COVID-19 đã để lại những “vết sẹo” khó lành cho thế giới, đồng thời buộc con người phải dựa nhiều hơn vào công nghệ để có thể duy trì kết nối, làm việc, giải trí và giữ gìn sức khỏe. Sự phát triển của lĩnh vực công nghệ trong năm 2021 sẽ phần nào tiếp nối đà của năm 2020. Nhưng ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 vẫn có thể mang tới nhiều biến động và xu hướng mới trong năm nay, buộc các doanh nghiệp và người dân sẽ phải thay đổi thói quen trong một thế giới còn tồn tại nhiều bất ổn khó giải quyết.

H.Thủy (theo TTXVN)

Nguồn: https://baotintuc.vn/khoa-hoc-cong-nghe/nhung-xu-huong-cong-nghe-dang-chu-y-trong-nam-2021-20210116092411510.htm

NHỮNG XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ GÓP PHẦN ĐỊNH HÌNH THẾ GIỚI CÔNG NGHỆ NĂM 2020

Năm 2020 có một vị trí đặc biệt trong lịch sử hiện đại của nhân loại với cú sốc mang tên đại dịch COVID-19.

Chú thích ảnh
Robot tích hợp AI có thể tự mình sản xuất tin tức. (Ảnh: Getty Images)

Đại dịch đã khiến hoạt động giao thương quốc tế, kinh doanh, du lịch xuyên biên giới vào tình trạng đình trê, kéo lùi đà phát triển của nhiều ngành công nghiệp.

Nhưng không thể phủ nhận rằng cũng chính nhờ đại dịch, quá trình chuyển đổi số đã tăng tốc nữa trên toàn cầu. Nhiều công ty đang đầu tư vào công nghệ thông tin và dữ liệu để chuyển đổi mô hình doanh nghiệp của họ. Theo một số thông kê, có tới 88% các sáng kiến chuyển đổi công nghệ thông tin của các doanh nghiệp đã được đẩy nhanh nhờ COVID-19.

Dù không thể phủ nhận những tác động mang tính kìm hãm của COVID-19, những xu hướng chuyển đổi số dưới đây đã góp phần định hình cho thế giới công nghệ trong năm 2020.

Siêu tự động hóa

Siêu tự động hóa chỉ sự kết hợp của công nghệ như tự động hóa quy trình bằng robot (RPA), phần mềm quản lý kinh doanh thông minh (iBPM) và Trí tuệ nhân tạo (AI) để giúp con người đưa ra quyết định nhanh hơn và sáng suốt hơn.

Trong một báo cáo, công ty nghiên cứu và tư vấn Gartner nhận định rằng quá trình siêu tự động hóa sẽ dẫn đến sự hình thành một “bản sao kỹ thuật số” (digital twins) của tổ chức, đặc biệt là tại các doanh nghiệp áp dụng công nghệ Internet kêt nối vạn vật (IoT). Bản sao số giúp các doanh nghiệp hình dung cụ thể quy trình làm việc, cách thức hoạt động cùng những tương tác chỉ số để thúc đẩy giá trị kinh doanh. Nó cũng cung cấp những đánh giá liên tục theo thời gian thực về doanh nghiệp, từ đó tác động đến các quyết định và cơ hội kinh doanh của những lãnh đạo cấp cao.

Gartner nhận định các doanh nghiệp sẽ chuyển sang hướng siêu tự động hóa nhiều hơn khi họ phải chạy đua để giảm chi phí, bù đắp cho việc áp dụng công nghệ mới đồng thời mang lại trải nghiệm nội bộ và chăm sóc khách hàng tốt hơn. Công ty tư vấn dự báo tới năm 2022, hơn 2/3 số doanh nghiệp có sử dụng IoT sẽ triển khai tối thiểu một bản sao số trong hoạt động sản xuất. Nhưng với sự thúc đẩy của đại dịch COVID-19, khoảng thời gian trên có thể được rút ngắn hơn nữa.

Mạng 5G 

Nhu cầu về đường truyền kết nối Internet đã tăng mạnh khi người lao động phải rời những khu văn phòng có chất lượng mạng tốt để chuyển về làm việc tại nhà do đại dịch. Và không khó hiểu tại sao các nhà điều hành viễn thông đã tăng tốc phát triển hệ thống mạng 5G của mình, dù chưa thể phủ sóng diện rộng.

Tính đến tháng 12/2020, có 412 nhà mạng tại 131 quốc gia đang đầu tư vào 5G, trong khi dịch vụ mạng 5G đã được triển khai ở gần như mọi khu vực chính trên thế giới,bao gồm 85 mạng ở châu Âu, Trung Đông và châu Phi (EMEA), 35 mạng ở châu Á – Thái Bình Dương và 15 mạng ở châu Mỹ. Hiện đã có 519 thiết bị 5G từ 104 nhà cung cấp thiết bị gốc được công bố, với 303 thiết bị đã có mặt trên thị trường.

Những con số trên cho thấy tốc độ phát triển mạng 5G không hề bị giảm tốc vì đại dịch COVID-19 mà có thể tiếp tục bùng nổ trong giai đoạn tới. Năm 2021 chắc chắn sẽ là một năm quan trọng đối với công nghệ này .

AI và Machine Learning

AI và học máy (Machine Learning) đã bùng nổ trong năm 2020 khi nhu cầu thu thập và phân tích lượng dữ liệu khổng lồ của các doanh nghiệp tăng vọt. Giới phân tích nhận xét rằng giá trị của AI và học máy đối với hoạt động phân tích dữ liệu có thể được chắt lọc thành ba yếu tố cốt lõi: tốc độ, quy mô và sự tiện lợi. Cả ba điều này đều được chứng minh trong năm nay, khi đại dịch lan rộng trên toàn cầu đã đẩy các doanh nghiệp phải chuyển lên môi trường số.

Lĩnh vực AI đang thu hút ngày càng nhiều đầu tư, khi công nghệ này được tích hợp vào ngày càng nhiều ứng dụng hàng ngày. Các nhà cung cấp nền tảng điện toán đám mây như Google, IBM, Microsoft và AWS đang đẩy mạnh đầu tư vào việc tăng tốc truyền dẫn dữ liệu. Các nhà sản xuất chip như NVIDIA và Intel đang xây dựng những bộ xử lý đồ họa (GPU) và bộ xử lý trung tâm (CPU) có khả năng đẩy quá trình đào tạo và học hỏi từ dữ liệu. Điều này cũng đang được mở rộng cho lĩnh vực điện toán phân tán, nơi AI đang giúp xử lý lượng dữ liệu khổng lồ từ các hệ thống IoT.

Ở quy mô nhỏ hơn, AI và ML đang giúp các công ty giải quyết được các vấn đề chăm sóc khách hàng thông qua AI đàm thoại. Công nghệ này cũng thu hút sự chú ý của các công ty công nghệ lớn nhất thế giới, khi lĩnh vực ứng dụng của nó trải từ trợ lý cá nhân “ảo” trên thiết bị di động đến các chatbot hỗ trợ khách hàng mua sắm trực tuyến.

Công nghệ chuỗi khối (blockchain)

Năm 2019 được coi là năm khá ảm đạm của công nghệ chuỗi khối (blockchain), tới mức nhiều chuyên gia gần như từ bỏ ý tưởng rằng công nghệ này sẽ mở rộng nhanh như kỳ vọng trước đó. Nhưng sang năm 2020, blockchain đã có một cú bứt phá khi cuộc khủng hoảng COVID-19 đã bộc lộ sự yếu kém trong kết nối và trao đổi dữ liệu chung trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này đã xóa sạch những nghi ngờ về giá trị của các nền tảng dựa trên blockchain.

Vì chuỗi cung ứng dễ phân tán và liên quan đến nhiều bên, Gần như mọi quy trình giao dịch phi tập trung đều trở nên hiệu quả và minh bạch hơn bằng cách sử dụng công nghệ blockchain. Các nền tảng dựa trên blockchain đều có khả năng chống giả mạo thông tin, đồng thời cho phép mọi bên theo dõi quá trình ghi chép và xác minh thông tin trong chuỗi cung ứng.

Không chỉ được áp dụng trong quản lý chuỗi cung ứng hàng hóa, blockchain cũng được sử dụng để theo dõi giám sát dữ liệu y tế công cộng, đặc biệt đối với các đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm như COVID-19. Với tính minh bạch của mình, blockchain sẽ giúp các tổ chức và Chính phủ đưa ra những dự báo chính xác hơn, từ đó phản ứng hiệu quả hơn. Blockchain cũng có thể giúp nhanh chóng phát triển các phương pháp điều trị nhờ tốc độ xử lý dữ liệu vượt trội của mình.

Ứng dụng thực tế ảo VR/AR

Trong năm 2020, đại dịch COVID-19 đã khiến nhiều người tìm đến các ứng dụng và thiết bị thực tế ảo (VR) và thực tế ảo tăng cường (AR) hơn so với trước đây. Với những thiết bị này, người dùng có thể chơi trò chơi điện tử, khám phá các điểm đến du lịch ảo, tham gia sự kiện giải trí trực tuyến, cũng như tìm kiếm sự tương tác giữa người với người thông qua các nền tảng VR xã hội khi họ phải ở trong nhà vì các hạn chế đi lại.

Các doanh nghiệp cũng sử dụng nền tảng VR để đào tạo nhân sự, tổ chức hội nghị, họp bàn các dự án và tạo những kết nối trực tuyến giữa các nhân viên. Các nhà khoa học trên thế giới cũng đã chuyển sang nền tảng VR để thiết kế phân tử, hợp tác nghiên cứu virus SARS-CoV-2 gây dịch COVID-19, từ đó xác định các phương pháp điều trị tiềm năng.

Năm 2020 đã qua đi, song những “vết thương” khó lành của thế giới vẫn còn ở lại. Đặc biệt, cú sốc mang tên COVID-19 làm đảo lộn cuộc sống và khiến nền kinh tế toàn cầu chao đảo vẫn còn đe dọa nhân loại. Trong bối cảnh đó, các xu hướng công nghệ nêu trên vẫn còn dư địa để tiếp tục phát triển, giúp con người có thể duy trì kết nối, làm việc, giải trí và giữ gìn sức khỏe trong một thế giới còn tồn tại nhiều bất ổn khó giải quyết.

H.Thủy (theo TTXVN)

Nguồn: https://baotintuc.vn/khoa-hoc-cong-nghe/nhung-xu-huong-chuyen-doi-so-gop-phan-dinh-hinh-the-gioi-cong-nghe-nam-2020-20210101122927380.htm

NHÀ MÁY THÔNG MINH – MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI SỐ CHO DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo nên những thay đổi lớn ở quy mô chưa từng có do sự dịch chuyển của một số yếu tố như cải tiến công nghệ, đặc tính sản xuất và môi trường làm việc. Làn sóng chuyển đổi diễn ra trên toàn cầu và ở hầu hết các ngành trọng yếu. Tại Việt Nam, chiến lược chuyển đổi sang nhà máy thông minh đã và đang làm thay đổi diện mạo ngành sản xuất theo hướng tích cực hơn bao giờ hết.

Có thể thấy, cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất có đặc trưng là đưa ứng dụng kỹ thuật vào ngành sản xuất. Cách mạng lần thứ hai sử dụng điện năng phục vụ sản xuất hàng loạt. Đặc điểm của cách mạng công nghiệp lần ba là sử dụng điện tử và công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất. Còn chìa khóa của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chính là sự cải tiến công nghệ quản lý thông qua internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), và công nghệ điện toán… Đây chính là thời điểm quyết định liệu doanh nghiệp sản xuất nào có thể tổn tại và bứt phá, doanh nghiệp nào sẽ dừng lại phía sau.

Trong nhiều thập kỷ, Hewlett Package Enterprise (HPE) đã không ngừng phát triển các sản phẩm và giải pháp hạ tầng IT cho ngành sản xuất và hiện sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI & IoT. Nhận thấy những thách thức cũng như cơ hội mà ngành sản xuất ở Việt Nam đang đối mặt, HPE chia sẻ kinh nghiệm triển khai giúp doanh nghiệp sản xuất có những bước đi vững vàng và chắc chắn ngay từ giai đoạn sơ khởi.

Cụ thể, HPE khái quát mô hình quản lý số cho nhà máy qua 3 giai đoạn: Khai thác dữ liệu, Giám sát tình trạng và phân tích dữ liệu, Phân tích dự đoán

Giai đoạn 1: Khai thác dữ liệu

Ở giai đoạn này, dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau được trích xuất, bao gồm dữ liệu từ hệ thống quản lý và cơ sở dữ liệu sản xuất hiện có, cảm biến, SCADAs, PLCs và máy móc được tích hợp vào nền tảng ThingWorx IoT thông qua HPE Edgeline EL300. Nền tảng IoT có thể được vận hành trên cloud hoặc máy chủ vật lý HPE Apollo. Trong đó, HPE Apollo được thiết kế cho các ứng dụng điện toán hiệu suất cao (HPC) bao gồm AI.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe2

MES (Manufacturing Execution System – Hệ thống điều hành sản xuất) là một hệ thống quản lý sản xuất tích hợp tập trung vào giám sát sàn, kiểm soát, hậu cần, theo dõi lịch sử và quản lý chất lượng sản phẩm theo thời gian thực với mục tiêu nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh.

Giai đoạn 2: Giám sát tình trạng và phân tích dữ liệu

Theo dõi điều kiện của dữ liệu có sẵn nhờ vào IoT, trước khi khai thác thông tin để đưa ra điều phối cao hơn ở bước phân tích và dự đoán. Theo dõi tình trạng với giả định rằng sức khỏe máy móc sẽ xấu đi theo thời gian và cuối cùng sẽ bị hỏng.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe3

Các lỗi máy móc thường gặp được xác định bởi các thông số thiết bị giám sát như độ rung, nhiệt độ động cơ và điều kiện môi trường xung quanh. Từ những dữ liệu này có thể phân biệt giữa mòn bánh răng, thiếu bôi trơn vòng trục, lệch trục hay lỗi điện năng…

Để đảm bảo độ tin cậy cao của thiết bị và ngăn chặn thời gian ngừng hoạt động ngoài kế hoạch, việc theo dõi hiệu suất thiết bị đóng vai trò chủ động để có thể lên lịch bảo trì trước khi sự cố xảy ra. Nhờ đó, tránh được những thiệt hại về tiền bạc, thời gian và công sức.

Dữ liệu được phân tích, trực quan hóa và hiển thị cho nhân viên nhà máy trên trang tổng quan trong ứng dụng di động hoặc phần mềm tăng cường thực tế ảo.

Tuy nhiên những báo cáo và hình dung này vẫn còn xa so với dự đoán. Để có dự đoán chính xác, các dữ liệu kết hợp từ các nguồn khác nhau được sử dụng để thiết lập các thuật toán máy học nhằm xác định các mẫu bất thường có thể dẫn đến lỗi thiết bị.

Giai đoạn 3: Phân tích dự đoán

Dự đoán bảo trì dựa trên thông tin chi tiết được trích xuất từ dữ liệu, thu thập được trong điều kiện thiết bị được giám sát liên tục. Các thông số kết hợp về tình trạng thiết bị, điều kiện môi trường, và cài đặt hoạt động được thu thập từ các cảm biến. Dữ liệu này sau đó được kết hợp với cài đặt vận hành, lịch sử dữ liệu trong cơ sở dữ liệu, dữ liệu bảo trì và dịch vụ trong hệ thống ERP. Tập hợp này được đưa vào các thuật toán máy học trên HPE Apollo 6500, từ đó mô hình dự đoán nhận ra sự kết hợp của các mẫu thông số dữ liệu môi trường và tình trạng thiết bị, nhận biết tình trạng khỏe mạnh và có vấn đề, bằng cách phát hiện ra mối tương quan nhân quả trong tập dữ liệu.

Mặt khác, dữ liệu máy học quan trọng được xử lý ở Biên (Edge) và việc ra quyết định được thực hiện ngay tại chỗ. Mô hình dự đoán này được triển khai trên HPE Edgeline EL1000 để dự đoán thời gian thực. Các lỗi tiềm ẩn được phát hiện vào thời gian thực sẽ kích hoạt một thông báo để cảnh báo nhóm bảo trì đồng thời thực hiện khắc phục sự cố thông qua Programmable Logic Controllers (PLCs) dựa trên vòng phản hồi thông tin. Điều này đảm bảo quá trình vận hành không bị gián đoạn nhờ việc phát hiện các lỗi tiềm ẩn thông qua phân tích dự đoán.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe4

Hạ tầng IT của HPE là nền tảng thông minh cho hệ thống vận hành sản xuất kỹ thuật số, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, cụ thể như giảm thiểu chi phí liên quan đến nhân sự bảo trì hệ thống, thiết bị bảo trì dự trữ, ngăn ngừa rủi ro hệ thống ngừng hoạt động ngoài kế hoạch bằng cách dự đoán lỗi thiết bị và lên lịch sửa chữa, bảo trì, đảm bảo an toàn cho người lao động nhờ thông tin từ dữ liệu thu thập tự động.

Theo báo cáo từ khách hàng của HPE, một nhà máy sản xuất theo quy trình đã uớc tính giảm 20% thời gian chết, giảm 50% chi phí bảo trì theo kế hoạch. Trong khi đó, một nhà máy sản xuất hộp đựng thực phẩm có sản lượng tăng tới 45% và giảm tới 50% các vấn đề về chất lượng sản phẩm qua từng năm.

Nhìn chung, việc triển khai IoT và AI thành công với lợi tức đầu tư hợp lý để mở ra những giá trị đích thực của công nghệ đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức ngành (từ chủ doanh nghiệp), phần cứng IoT (HPE), phần mềm (ThingWorx) và dịch vụ chuyên môn (CAD-IT IoT Centre) để thu hẹp khoảng cách từ lý thuyết đến thực tế.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất có vốn FDI đang dẫn đầu xu hướng chuyển đổi sang nhà máy thông minh, tạo ra khác biệt rõ rệt giữa mô hình sản xuất truyền thống và hiện đại. Xu thế chuyển đổi số là điều tất yếu và cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt khi các ứng dụng công nghệ hàng đầu thế giới đều có mặt tại đây.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe5

Charles Darwin từng nói: “Để tồn tại, bạn không cần phải là người mạnh mẽ hay thông minh nhất, mà là người thích nghi tốt nhất”. Điều này đặc biệt đúng khi nói đến sự thay đổi nhanh chóng trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Khi mà IoT đã thúc đẩy tăng tốc quá trình với tổng ước tính khoảng 21 tỷ thiết bị được kết nối IoT vào năm 2025. Vậy doanh nghiệp bạn đã sẵn sàng thích nghi và chuyển đổi?

Hewlett Packard Enterprise (HPE) là công ty đa quốc gia của Mỹ chuyên cung cấp sản phẩm và giải pháp công nghệ thông tin cho doanh nghiệp, có tiền thân là Hewlett Packard (HP). Tìm hiểu thêm về giải pháp hạ tầng cho nhà máy thông minh của HPE tại manufacturingdx.com.

Nguồn: https://tgs.vn/iot/nha-may-thong-minh-mo-hinh-chuyen-doi-so-cho-doanh-nghiep-san-xuat-tai-viet-nam/

TỰ ĐỘNG HÓA GIÚP CON NGƯỜI CÓ THỜI GIAN SÁNG TẠO

Theo Forbes, khi quy trình tự động hóa được áp dụng ở nơi làm việc đúng cách, người lao động sẽ có thêm thời gian dành cho việc sáng tạo và phát triển các kỹ năng mới.

Nhờ công nghệ, nhân viên văn phòng không cần phải hao tâm tổn sức với những công việc bàn giấy mất thời gian /// Ảnh: Shutterstock
Nhờ công nghệ, nhân viên văn phòng không cần phải hao tâm tổn sức với những công việc bàn giấy mất thời gian. (Ảnh: Shutterstock)
Theo Forbes, khi quy trình tự động hóa được áp dụng ở nơi làm việc đúng cách, người lao động sẽ có thêm thời gian dành cho việc sáng tạo và phát triển các kỹ năng mới.
Tình trạng mất việc do bị máy móc thay thế đang là nỗi lo chung của người lao động ở những nước phát triển. Nhưng Nerys Mutlow – cố vấn tại Văn phòng Đổi mới Service Now cho rằng có nhiều cách để con người và máy móc cùng chung sống, hỗ trợ nhau phát triển mà không gây cản trở đối phương. Theo bà, người lao động nên sẵn sàng cho tâm thế học tập suốt đời để không bị tụt lại giữa thời đại công nghệ. Trợ lý giáo sư tại Đại học California (Mỹ) Matt Beane cũng chia sẻ quan điểm với Mutlow: “Hiện giờ tương lai của chúng ta rất mông lung, nhưng điều này cũng đồng nghĩa ta có thêm nhiều cơ hội”.
Phóng viên Forbes đã nói chuyện với Beane và Mutlow để hiểu rõ hơn lý do tại sao các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và nhân viên nên áp dụng tự động hóa ở nơi làm việc. Họ đưa ra ba dự đoán về tương lai của tự động hóa trong môi trường làm việc.
Viễn cảnh đầu tiên là tự động hóa sẽ trở thành động lực thúc đẩy người lao động hoàn thiện bản thân, học thêm các kỹ năng mới để dễ dàng thăng tiến trong sự nghiệp. Mutlow khẳng định: “Chúng ta sẽ nâng cao tay nghề của nhân viên bằng cách giảm bớt những công việc nhàm chán, lặp lại. Ta lãng phí rất nhiều thời gian thực hiện các công việc thủ công. Nếu bớt được những việc đó, ta có nhiều thời gian hơn”.
Tự động hóa giúp con người có thời gian sáng tạo - ảnh 1
Tự động hóa cũng giúp các kỹ sư có thời gian sáng tạo thay vì hằng ngày phải thực hiện các quy trình lặp đi lặp lại. (Ảnh: Shutterstock)
Viễn cảnh thứ hai là con người có thể tập trung chất xám cho các hoạt động sáng tạo trong nhiều lĩnh vực. Mutlow cho rằng: “Con người rất thông minh, sáng tạo, khéo léo và luôn đổi mới. Chính con người đã tìm cách phát triển và nâng cao mô hình vận hành. Nhưng đôi khi ta không có thời gian suy tư vì các quy trình làm việc không hiệu quả khiến ta kiệt sức”.
Viễn cảnh thứ ba là khi tự động hóa tác động đến định hướng nghề nghiệp của học sinh, sinh viên và quá trình học việc của các thực tập sinh. Matt Beane lấy ví dụ từ ngành y hiện đại: “Nhờ phẫu thuật bằng robot, ta chỉ cần một bác sĩ phẫu thuật ở vùng nông thôn Wisconsin hoặc Maine và một y tá chứ không cần tới hai bác sĩ trong phòng”, điều này góp phần giải quyết tình trạng thiếu nhân lực trong ngành y.
Mặt khác, Beane cũng lưu ý rằng: “Cả một thế hệ thực tập sinh sẽ không còn cơ hội tham gia vào những ca phẫu thuật, làm việc với bác sĩ cấp cao ở bên cạnh giúp đỡ, hướng dẫn, huấn luyện và đưa ra phản hồi cho họ”, tức tự động hóa sẽ khiến sự tiếp xúc giữa người với người trong môi trường làm việc giảm dần, do đó những thực tập sinh phải chủ động học hỏi, xoay sở mà không có ai giúp đỡ.
Để tránh tình trạng này trong các lĩnh vực khác, các công ty nên nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp, khuyến khích nhân viên xác định con đường sự nghiệp. Beane tin vào khả năng thích nghi của con người: “Khi không được giáo dục hướng nghiệp, có những người sẽ chủ động tự học; họ sẽ tìm ra cách tiếp thu kiến thức trong thế giới mới mẻ, rộng lớn này. Tôi tin chắc rằng sự kết hợp giữa AI, công nghệ thực tế ảo, phần mềm và quy trình kỹ thuật lấy con người làm trung tâm có thể tạo ra các chương trình học việc tốt hơn so với thời kỳ trước khi có AI và internet”.
Nguồn: https://thanhnien.vn/cong-nghe/tu-dong-hoa-giup-con-nguoi-co-thoi-gian-sang-tao-1319568.html
Đăng ký nhận thông tin