CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO ĐẾN NĂM 2030

Nghiên cứu, làm chủ, phát triển công nghệ cao, ứng dụng hiệu quả công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường, sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ; hình thành, phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực này.

Ảnh minh họa

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030.

Mục tiêu cụ thể của Chương trình là phát triển và làm chủ được 20 công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, ứng dụng có hiệu quả vào hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao của doanh nghiệp.

Gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 60% tổng giá trị xuất khẩu trong công nghiệp chế biến chế tạo, tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao.

Xây dựng và phát triển khoảng 500 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; xây dựng và phát triển khoảng 200 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có sự hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên phạm vi cả nước.

Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030 bao gồm 3 chương trình thành phần: 1- Chương trình nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao, phát triển sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì; 2- Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao do Bộ Công Thương chủ trì; 3- Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.

Để đạt mục tiêu trên, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Chương trình gồm: Hoàn thiện thể chế; hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ sử dụng kết quả nghiên cứu, thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ; hỗ trợ và tạo điều kiện cho ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ cao; nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và tác động của công nghệ cao.

Chí Kiên

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Chuong-trinh-quoc-gia-phat-trien-cong-nghe-cao-den-nam-2030/421182.vgp

CHUYỂN ĐỔI SỐ: CHÚ TRỌNG ĐẦU TƯ CÔNG HẠ TẦNG CÔNG NGHỆ

Chuyển đổi số được cho là một cơ hội có thể góp phần giúp Việt Nam nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia… Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi và số hóa nền kinh tế, đang đặt ra không ít thách thức, cần có những quyết sách kịp thời, phù hợp, trong đó cần chú trọng hơn tới đầu tư công vào hạ tầng công nghệ, viễn thông…

Chuyển đổi số trong nền kinh tế đã khẳng định thêm một lần nữa về vai trò, tính tất yếu và tầm quan trọng khi đại dịch Covid-19 đã làm đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu, dịch chuyển các dòng đầu tư do hạn chế đi lại và giao thương trực tiếp.

Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn dân số vàng, tỷ lệ dân trong độ tuổi lao động cao, lớp trẻ ngày càng năng động, có khả năng tiếp thu nhanh kiến thức và kỹ năng mới, bao gồm kiến thức và kỹ năng công nghệ số. Chỉ số về phát triển và chất lượng giáo dục tại Việt Nam, trong những năm gần đây luôn được đánh giá rất cao. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế cao trong vài thập niên lại đây đã góp phần quan trọng cải thiện thu nhập xã hội, tăng tiêu dùng, gia tăng đáng kể tầng lớp người trung lưu có thu nhập khá, thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao ngày càng được mở rộng.

Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam cũng đã và đang được cải thiện mạnh. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2020 đã xếp hạng Việt Nam đứng vị trí thứ 42, dẫn đầu trong số các quốc gia có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Tốc độ đổi mới công nghệ nhanh chóng, công nghệ truyền thông di động với mạng 4G đã phủ sóng hơn 95% hộ gia đình và đang phát triển mạng 5G. Phạm vi phủ sóng không dây rộng rãi, với số lượng người tiêu dùng sử dụng điện thoại di động cao đều có thể tiếp cận và khai thác được cơ hội từ nền kinh tế số. Đến nay, tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều ngành mũi nhọn có quan đến kinh tế số, kỹ thuật số như thương mại điện tử, fintech, kinh tế chia sẻ… Đó là những nền tảng rất có giá trị, tạo ra động lực cho quá trình tiếp cận và đẩy nhanh chuyển đổi số, phát triển nền kinh tế số, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng… thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Chuyển đổi số: Chú trọng đầu tư công hạ tầng công nghệ

Tuy nhiên, nghiên cứu, đánh giá về cơ hội chuyển đổi số của Việt Nam hiện nay, PGS.TS Tô Trung Thành – Trưởng phòng khoa học, Trường đại học Kinh tế quốc dân – nhận định: Quá trình tiếp cận chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số đang đặt ra không ít thách thức. Bởi chất lượng nguồn nhân lực, xét tổng thể vẫn còn yếu, hạn chế về kỹ năng ngoại ngữ, khả năng làm việc độc lập và khả năng làm việc nhóm chưa cao. Thực tế cho thấy, cổng thông tin điện tử quốc gia đã được Chính phủ thiết lập, đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính công theo hướng số hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, song bước xuất phát điểm phát triển kinh tế số của Việt Nam thì lại thấp. Điều này đã dẫn đến nhận thức, kiến thức về quản lý nhà nước, nhận thức và hành động từ phía doanh nghiệp cũng như người dân về kinh tế số vẫn còn chưa có tính thống nhất, chậm chạp, không đồng đều. Hành lang pháp lý, thể chế chính sách cho công cuộc chuyển đổi số vẫn còn nhiều bất cập…

Những vấn đề nêu trên đang trở thành rào cản rất lớn đối với quá trình chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số của Việt Nam. Xếp hạng của Cisco là một minh chứng đã cho thấy, mức độ sẵn sàng số hóa của Việt Nam còn thấp, mới chỉ đứng thứ 70/141 quốc gia được xếp hạng, so với khu vực còn thấp hơn Singapore, Malaysia, Thái Lan…

PGS.TS Tô Trung Thành cho rằng, Chính phủ cần có khung chiến lược để định hướng và tạo hành lang pháp lý, thể chế thuận lợi hơn cho việc chuyển đổi số. Mục tiêu hướng tới là chuyển đổi số và số hóa đồng bộ ở tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Muốn làm tốt được việc này, cần phải bắt đầu từ hoạt động quản trị Nhà nước.

Cần có một hạ tầng số và dịch vụ số bao quát mọi ngõ ngách của nền kinh tế và đến từng người dân. Muốn vậy, phải có nguồn lực đầu tư rất lớn và chất lượng nguồn nhân lực cao. Trong khi, chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì không thể giải quyết, mà phải có cơ chế, chính sách thích hợp động viên, huy động hiệu quả các nguồn lực từ xã hội, từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài (FDI), thông qua tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng và minh bạch.

Trong dài hạn, PGS.TS Tô Trung Thành cho rằng, công cuộc chuyển đổi số phải xuất phát từ sự đổi mới giáo dục – đào tạo, thay đổi cách thức quản lý giáo dục, phương pháp giảng dạy, giáo trình dạy và cả những môn học mới theo hướng gắn chặt với công nghệ và số hóa. Kỹ năng số cần được giới thiệu tới cấp mầm non và nâng dần mức độ tiếp cận cho các cấp độ học cao hơn.

Cần có các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng đủ sức hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư mạnh vào khoa học công nghệ, đổi mới, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, cải tiến kỹ thuật và công nghệ; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và đội ngũ doanh nhân. Đặc biệt, Chính phủ cần tạo dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật số đủ mạnh để các doanh nghiệp kết nối, nắm bắt xu thế và khai thác hiệu quả thế mạnh của kinh tế số, thông qua việc tăng cường đầu tư công vào phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, thanh toán điện tử, ngân hàng điện tử… giúp cho các doanh nghiệp cải thiện sự sẵn sàng bước vào kỷ nguyên công nghệ số hóa.

Ngọc Quỳnh

Nguồn: https://congthuong.vn/chuyen-doi-so-chu-trong-dau-tu-cong-ha-tang-cong-nghe-151193.html

CÁC ‘ÔNG LỚN’ CÔNG NGHỆ ĐANG DỊCH CHUYỂN CHUỖI CUNG ỨNG VỀ VIỆT NAM

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ổn định đổ vào lĩnh vực sản xuất công nghệ giúp Việt Nam giành được thị phần đáng kể trong xuất khẩu điện thoại và chip xử lý, đồng thời gia tăng mối quan tâm của các đại gia công nghệ.

Các ông lớn công nghệ đang dịch chuyển chuỗi cung ứng về Việt Nam - Ảnh 1.
Việt Nam đang hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế – Ảnh: N.BÌNH

Theo nhận định báo cáo “Vietnam at a glance” vừa được HSBC công bố, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI ở ngành công nghệ đã giúp Việt Nam trỗi dậy mạnh mẽ hơn trong dịch, thu hút sự quan tâm của nhiều ông lớn trong ngành công nghệ thế giới.

Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư), kết thúc tháng đầu tiên của năm 2021, vốn đăng ký mới doanh nghiệp FDI của cả nước đạt trên 1,3 tỉ USD, thông qua 47 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Nếu tính cả vốn điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, nhà đầu tư ngoại đã rót vào hơn 2,02 tỉ USD.

Đáng chú ý, vốn thực hiện của dự án FDI ước đạt 1,51 tỉ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ 2020.

Mới đây, Intel công bố khoản đầu tư thêm 475 triệu USD để sản xuất các sản phẩm 5G và bộ xử lý cốt lõi. Việc mở rộng đưa xuất khẩu bộ vi xử lý của Việt Nam tăng gấp ba lần thị phần trong năm 2019.

Các chuyên gia HSBC cho biết năm qua, xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam phát triển khá tốt. Nhờ vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ổn định đổ vào lĩnh vực sản xuất công nghệ, Việt Nam đã thành công trong việc chuyển đổi sang nền sản xuất công nghệ chủ chốt, giành được thị phần đáng kể trong xuất khẩu điện thoại và chip xử lý.

Đặc biệt, việc chuyển hướng chuỗi cung ứng đã làm gia tăng mối quan tâm của các đại gia công nghệ tại Việt Nam.

Xu hướng gia tăng trong thương mại Mỹ – Trung căng thẳng có lợi cho Việt Nam không chỉ về thương mại bùng nổ mà còn cả FDI chuyển hướng.

Việt Nam cũng đang nổi lên như một nhà cung cấp chip xử lý, điều khiển dù loại do Việt Nam lắp ráp là loại chip có giá trị tương đối thấp. Trong khi Trung Quốc sản xuất 70% máy tính trên toàn cầu thì Việt Nam đang vươn lên sản xuất máy tính thành phẩm, hỗ trợ nhu cầu sử dụng chip.

Việt Nam đã chứng tỏ khả năng leo lên chuỗi giá trị cao hơn, phát triển thành một trung tâm sản xuất các sản phẩm công nghệ sau hai thập kỷ.

Báo cáo nhận định mặc dù quá trình này có phần bị gián đoạn do đại dịch, nhưng FDI vào công nghệ vẫn đang diễn ra tích cực, đặc biệt là các dự án liên quan đến Hãng Apple. Hãng công nghệ này đã sản xuất AirPods ở Việt Nam từ tháng 5-2020 và được cho là sẽ bắt đầu sản xuất iPad sớm nhất vào giữa năm 2021.

Đến nay, hai nhà cung cấp Apple Đài Loan, Pegatron và Foxconn, đều đã công bố kế hoạch đầu tư khổng lồ để tăng cường năng lực sản xuất của họ tại Việt Nam. Ngoài ra, hai nhà lắp ráp Apple của Trung Quốc đại lục, Luxshare và Goertek, có tăng tuyển dụng và bắt đầu xây dựng cơ sở sản xuất mới từ cuối năm 2020.

Tham vọng là trung tâm sản xuất các sản phẩm công nghệ, không chỉ là cấp thấp, đang mở rộng nhưng để nắm bắt các cơ hội sắp tới, Việt Nam còn nhiều việc phải làm.

“Để nắm bắt tốt hơn các cơ hội trong tương lai vẫn là một nhiệm vụ ưu tiên của các nhà hoạch định chính sách nếu Việt Nam muốn tiến lên chuỗi giá trị cao hơn. Trước tiên, cần cải thiện năng suất lao động thông qua việc giáo dục tốt hơn và đào tạo nghề nghiệp được thiết kế phù hợp hơn.

Trong khi đó, việc thúc đẩy cơ sở hạ tầng đang diễn ra sẽ thúc đẩy khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong năm 2021, Nhà nước cần hỗ trợ các chính sách tài khóa có mục tiêu hơn cho các lĩnh vực dễ bị tổn thương và người lao động”, chuyên gia HSBC nhận định.

N.BÌNH

Nguồn: https://congnghe.tuoitre.vn/cac-ong-lon-cong-nghe-dang-dich-chuyen-chuoi-cung-ung-ve-viet-nam-20210217192047287.htm?fbclid=IwAR0xV8YdvGewVGhl-CkK3UJ8wiYEdpT4bsz0gPrIRVXo1-wh_c0db0GiEYA

4 LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Danh mục công nghệ ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cụ thể, Danh mục công nghệ ưu tiên của từng lĩnh vực như sau:Theo đó, 4 lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 gồm: 1- Công nghệ số; 2- Vật lý; 3- Công nghệ sinh học; 4- Năng lượng và môi trường.

Lĩnh vực công nghệ số: Trí tuệ nhân tạo; internet vạn vật; công nghệ phân tích dữ liệu lớn; công nghệ chuỗi khối; điện toán đám mây, điện toán lưới, điện toán biên; điện toán lượng tử; công nghệ mạng thế hệ sau; thực tại ảo, thực tại tăng cường, thực tại trộn; công nghệ an ninh mạng thông minh, tự khắc phục và thích ứng; bản sao số; công nghệ mô phỏng nhà máy sản xuất; nông nghiệp chính xác.

Lĩnh vực vật lý: Robot tự hành, robot cộng tác, phương tiện bay không người lái, phương tiện tự hành dưới nước; in 3D tiên tiến; công nghệ chế tạo vật liệu nano, thiết bị nano; công nghệ chế tạo vật liệu chức năng; công nghệ thiết kế, chế tạo vệ tinh nhỏ và siêu nhỏ; công nghệ ánh sáng và quang tử.Lĩnh vực công nghệ sinh học: Sinh học tổng hợp; công nghệ thần kinh; tế bào gốc; công nghệ Enzyme; tin sinh học; chip sinh học và cảm biến sinh học; y học tái tạo và kỹ thuật tạo mô; công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới.

Lĩnh vực năng lượng và môi trường: Công nghệ chế tạo pin nhiên liệu; công nghệ tổng hợp nhiên liệu sinh học tiên tiến; năng lượng Hydrogen; quang điện; công nghệ lưu trữ năng lượng tiên tiến; công nghệ tiên tiến trong thăm dò, thu hồi dầu và khí; thu thập và lưu trữ các bon; năng lượng vi mô; công nghệ tua bin gió tiên tiến; công nghệ năng lượng địa nhiệt, năng lượng đại dương và năng lượng sóng; lưới diện thông minh.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức liên quan căn cứ Quyết định này và các quy định khác của pháp luật liên quan để định hướng, ưu tiên bố trí nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.

Chí Kiên

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/4-linh-vuc-Cong-nghe-uu-tien-nghien-cuu-phat-trien/417384.vgp

ĐÒN BẨY GIÚP DOANH NGHIỆP TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ 4.0

Bộ Công Thương đang xây dựng Đề án hỗ trợ doanh nghiệp (DN) ứng dụng công nghệ 4.0 và phát triển sản xuất thông minh đến năm 2030. Đây được xem là đòn bẩy quan trọng giúp DN nhanh chóng tiếp cận và tận dụng cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0. Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Đào Trọng Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công Thương) – về vấn đề này.

Đòn bẩy giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ 4.0
Ông Đào Trọng Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công Thương)

CMCN 4.0 đang mở ra cơ hội to lớn để DN xây dựng thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ông có thể cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?

Tôi hoàn toàn đồng ý và chia sẻ với quan điểm này. Có lẽ không còn phải nghi ngờ gì nữa về những cơ hội do cuộc CMCN 4.0 mang lại cho DN trong việc đổi mới hiện đại hóa công nghệ, nâng cao trình độ, năng lực sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh của các DN. Không chỉ là vấn đề nâng cao hiệu quả hay chất lượng sản phẩm, dịch vụ, việc ứng dụng các công nghệ mang đến cơ hội cho các DN trong việc tạo ra giá trị hoàn toàn mới bằng việc hình thành những sản phẩm, dịch vụ mới, thậm chí những mô hình kinh doanh hoàn toàn mới.

Tôi cho rằng, cuộc CMCN 4.0 không chỉ là vấn đề mang công nghệ nào vào trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các DN nên nhìn nó như một yếu tố, điều kiện mới tác động tới mỗi DN, là một cơ hội để các DN xem lại định hướng phát triển, đưa ra những kế hoạch để hiện thực hóa cơ hội. Tôi tin rằng, nhanh chóng nắm bắt cơ hội, đưa các công nghệ mới vào quá trình sản xuất, kinh doanh, thực hiện chuyển đổi số, DN sẽ có cơ hội để tiến nhanh về phía trước, tạo ra những bước phát triển đột phá.

Vậy ông đánh giá thế nào về mức độ sẵn sàng của DN Việt Nam với cuộc CMCN 4.0? DN Việt đã tận dụng được hết những lợi ích cuộc cách mạng này mang lại hay chưa?

Năm 2017 – 2018, Bộ Công Thương đã tiến hành một cuộc khảo sát, đánh giá mức độ sẵn sàng của các DN sản xuất công nghiệp trong tiếp cận với cuộc CMCN 4.0 dựa trên Bộ chỉ số đánh giá của Hiệp hội công nghiệp chế tạo của Đức. Kết quả khảo sát cho thấy, về cơ bản, các DN có mức tiếp cận thấp ở tất cả các khía cạnh về chiến lược và cơ cấu tổ chức, vận hành thông minh, nhà máy thông minh, sản phẩm thông minh, dịch vụ dựa trên nền tảng dữ liệu và người lao động.

Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng đây là kết quả khảo sát của Bộ Công Thương đã thực hiện ở thời điểm hơn 2 năm trước. Qua làm việc với các DN của Bộ Công Thương thời gian qua, chúng tôi cũng thấy rằng, DN đang rất quan tâm và bắt đầu có những bước đi, kế hoạch để hiện thực hóa. Tôi tin rằng, tại thời điểm này, các DN đã nhìn nhận được những cơ hội cũng như những lợi ích mà cuộc CMCN 4.0 có thể mang lại. Để tận dụng được, hay nói cách khác là để trở thành một nhà máy thông minh, một DN số sẽ cần một hành trình dài với quyết tâm của DN cũng như vai trò đòn bẩy, hỗ trợ từ phía nhà nước.

Phát triển nhà máy số chính là tâm điểm của cuộc CMCN 4.0 và đây cũng là định hướng ưu tiên lớn của ngành Công Thương. Xin ông chia sẻ về những hoạt động hỗ trợ cụ thể của Bộ giúp DN chuyển đổi số thành công?

Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, ứng dụng các công nghệ từ cuộc CMCN 4.0 vào trong hoạt động sản xuất của DN, hỗ trợ DN phát triển sản xuất thông minh, chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Công Thương đã dành nhiều nguồn lực và tập trung triển khai nội dung này. Cụ thể, hỗ trợ xây dựng các mô hình điểm về sản xuất thông minh trong các lĩnh vực: Cơ khí, nhựa, điện tử, bia, logistics. Các nội dung đó đã được chúng tôi triển khai lồng ghép trong các chương trình khoa học – công nghệ cấp Bộ Công Thương và cấp quốc gia cùng với sự tham gia của các DN. Chúng tôi hy vọng kết quả triển khai những mô hình sẽ được đánh giá, nhân rộng cho các DN trong ngành.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm hỗ trợ, kết nối DN trong nước với các DN có thế mạnh trong phát triển và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp 4.0. Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Công Thương đã hợp tác cùng Tập đoàn Siemens của Đức để hỗ trợ điểm một số DN thực hiện việc đánh giá mức độ sẵn sàng trong phát triển nhà máy thông minh; từng bước hỗ trợ DN xây dựng kế hoạch và lộ trình để thực hiện chuyển đổi số.

Đặc biệt, Bộ Công Thương đang triển khai xây dựng Đề án hỗ trợ DN ứng dụng công nghệ 4.0 và phát triển sản xuất thông minh đến năm 2030. Thiết kế nội dung của đề án sẽ tập trung cụ thể hóa những hoạt động hỗ trợ cũng như việc xây dựng năng lực, hình thành hệ sinh thái phục vụ phát triển sản xuất thông minh cho các DN ngành Công Thương.

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Nga

Nguồn: https://congthuong.vn/don-bay-giup-doanh-nghiep-tiep-can-cong-nghe-40-151169.html

CÔNG NGHỆ ĐÁM MÂY VÀ QUẢN TRỊ DỮ LIỆU ĐEM LẠI SỰ THÀNH CÔNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ

Ở cấp độ doanh nghiệp, tổ chức hay đến cấp độ Quốc gia nếu nhận thức đúng về tầm quan trọng của công nghệ đám mây và quản trị dữ liệu sẽ là mấu chốt cho sự thành công của chuyển đổi số.

Công nghệ đám mây và quản trị dữ liệu đem lại sự thành công của chuyển đổi số
Công nghệ đám mây và quản trị dữ liệu đem lại sự thành công của chuyển đổi số

Chuyển đổi số, ứng dụng các công nghệ số đã trở thành xu thế với các doanh nghiệp và chính phủ trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam trong vòng năm năm trở lại đây. Xu thế này càng trở nên mạnh mẽ hơn khi thế giới phải chống chọi với đại dịch Covid, khi các hoạt động kinh doanh lẫn vận hành nội bộ của doanh nghiệp phải dịch chuyển lên môi trường trực tuyến nhiều hơn. Tại Việt Nam, khảo sát mới nhất của Ngân hàng Thế giới công bố tháng 11/2020 cũng cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng hoặc tăng cường sử dụng công nghệ số để thích ứng với môi trường kinh doanh mới đã tăng từ 50% lên 60% trong nhóm doanh nghiệp được khảo sát; trong đó nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ đang bắt kịp với doanh nghiệp lớn trong đầu tư vào các giải pháp công nghệ số. Trong tiến trình đó, một yếu tố cốt lõi khi chuyển đổi số, ‘số hoá’ các quy trình hoạt động và ứng dụng các giải pháp công nghệ số – đó là quản trị các giải pháp số và dữ liệu số trên nền tảng điện toán đám mây. Hiểu và lựa chọn đúng các dịch vụ điện toán đám mây khi đầu tư công nghệ sẽ giúp các chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp,  tối ưu hoá được chi phí và tăng hiệu quả dài hạn khi bắt tay ‘số hoá’ các hoạt động của tổ chức mình.

Hiểu đúng về Điện toán đám mây và lợi ích của công nghệ mới

Một nhận thức thiếu sót thông thường ở Việt Nam là điện toán đám mây chỉ phục vụ cho lưu trữ dữ liệu. Thực tế lợi ích của công nghệ này vượt xa hơn thế bởi nó thay đổi hoàn toàn cách mà các tổ chức có thể xây dựng doanh nghiệp. Điện toán đám mây không chỉ là về công nghệ hoặc về cách các tổ chức tiếp cận công nghệ mà quan trọng hơn, công nghệ đó tạo ra tác động toàn diện về việc chuyển đổi doanh nghiệp. Điện toán đám mây phân phối các tài nguyên CNTT theo nhu cầu qua Internet với chính sách thanh toán theo mức sử dụng. Thay vì mua, sở hữu và bảo trì các trung tâm dữ liệu và máy chủ vật lý, doanh nghiệp có thể tiếp cận các dịch vụ công nghệ, như năng lượng điện toán, lưu trữ và cơ sở dữ liệu, khi cần thiết. Nó tương tự như cách người tiêu dùng bật công tắc điện trong nhà và công ty điện lực truyền tải điện. Với điện toán đám mây, các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô (HCSP) quản lý và duy trì cơ sở hạ tầng công nghệ trong một môi trường an toàn và các doanh nghiệp truy cập các tài nguyên này qua Internet để phát triển và chạy các ứng dụng của họ. Điện toán đám mây có thể phát triển hoặc thu hẹp ngay lập tức và doanh nghiệp chỉ trả tiền cho những gì họ sử dụng. Như thế lợi ích kinh tế của dịch vụ này là rất đáng kể.

4 ưu điểm của việc di chuyển lên đám mây siêu quy mô

Các dịch vụ đám mây quy mô lớn, vận hành toàn cầu ( như dịch vụ của Amazon Webservice, Google, Microsoft …) còn được gọi là Đám mây siêu quy mô (hyperscale cloud) cho thấy 4 ưu điểm chính:

Thứ nhất, tăng tốc độ và sự linh hoạt: Trong môi trường điện toán đám mây, khách hàng cung cấp cho nhà phát triển các tài nguyên CNTT chỉ bằng một cú nhấp chuột, do đó giảm thời gian cung cấp từ vài tuần xuống còn vài phút. Điều này gia tăng đáng kể sự linh hoạt của tổ chức vì chi phí và thời gian để thử nghiệm và phát triển thấp hơn rõ rệt.

Thứ hai, chi phí thấp nhờ ngừng chi tiền để vận hành và duy trì trung tâm dữ liệu: Với Điện toán đám mây, các doanh nghiệp không còn cần phải sở hữu trung tâm dữ liệu hoặc lập kế hoạch và mua sắm máy chủ hay cơ sở hạ tầng CNTT đắt đỏ như trước đây. Một ví dụ nhỏ, nếu không dùng ‘đám mây’, một doanh nghiệp nhỏ với chỉ 10 máy tính cũng cần có một máy chủ (serve) và riêng máy chủ này có chi phí gấp vài lần máy tính bình thường. Nay thì thay vì mua, sở hữu và duy trì cơ sở hạ tầng công nghệ tốn kém, các tổ chức có thể sử dụng nhà cung cấp dịch vụ đám mây để xây dựng ứng dụng bằng cách sử dụng các khối tài nguyên “building block” (tức là tài nguyên CNTT) được cung cấp trên cơ sở cần thiết. Ví dụ, các phần mềm dù là phục vụ văn phòng như Word, Excel, hay phần mềm quản trị nhân sự, kế toán – đều có thể mua theo gói người sử dụng ( account) thay vì mua toàn bộ bản quyền phần mềm và cài đặt riêng lên từng máy tính như trước đây.

Thứ ba, mở rộng ra toàn cầu trong vài phút: Công nghệ này cho phép doanh nghiệp Dễ dàng triển khai ứng dụng ở nhiều khu vực trên thế giới chỉ với vài cú nhấp chuột. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể cung cấp độ trễ thấp hơn và trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng của họ với chi phí tối thiểu. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây (CSP) sở hữu và duy trì phần cứng được kết nối mạng cần thiết để các khối này hoạt động theo cách chúng được yêu cầu, trong khi doanh nghiệp cung cấp các loại tài nguyên CNTT khác nhau và xây dựng những gì họ cần bằng nền tảng dịch vụ đám mây. CSP cung cấp một loạt các dịch vụ cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như công suất, các tùy chọn lưu trữ, mạng và cơ sở dữ liệu. Điều này cho phép các doanh nghiệp, công ty start-up, doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng trong khu vực công tiếp cận các khối tài nguyên mà họ cần để đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu kinh doanh.

Thứ tư, an ninh mạng quản trị dữ liệu tốt hơn: Khi nỗi sợ bị tấn công mạng và mất dữ liệu, mất bí mật kinh doanh là nỗi lo hàng đầu của mọi doanh nghiệp khi chuyển đổi số, ‘dịch vụ điện toán đám mây’ đang là câu trả lời tối ưu nhất hiện nay. Khả năng sao lưu dữ liệu và phục hồi dữ liệu là ưu điểm đáng kể khi so sánh với lưu trữ dữ liệu theo phương cách truyền thống. Điều này có được nhờ công nghệ bảo mật đối với trung tâm dữ liệu vật lý, tách mạng, khả năng phục hồi phần cứng máy chủ và kho lưu trữ.

Dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô rất đáng tin cậy và là một trong những lý do chính khiến doanh nghiệp của họ phát triển nhanh như hiện tại. Các doanh nghiệp này xây dựng trung tâm dữ liệu của họ ở nhiều nơi khác nhau cũng như trên nhiều Vùng khả dụng để cung cấp khả năng phục hồi tối đa chống lại sự gián đoạn hệ thống. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô thiết kế các trung tâm dữ liệu của mình với các kết nối băng thông dư thừa đáng kể để nếu xảy ra gián đoạn lớn thì vẫn có đủ dung lượng để cho phép cân bằng lưu lượng đến các trang còn lại, giảm thiểu tác động đến khách hàng.

Ưu điểm thứ hai là giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng quản trị và bảo vệ dữ liệu của mình. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô áp dụng Mô hình trách nhiệm chung, theo đó khách hàng duy trì quyền sở hữu và kiểm soát dữ liệu của họ trên các yếu tố chính như: dữ liệu nào họ chọn để lưu trữ hoặc xử lý bằng các dịch vụ đám mây siêu quy mô, bao gồm nội dung đó có bao gồm dữ liệu cá nhân hoặc thông tin nhận dạng cá nhân hay không; Dịch vụ đám mây nào họ sử dụng với nội dung của họ;  Khu vực địa lý nơi lưu trữ nội dung của họ; Định dạng, cấu trúc và bảo mật của nội dung của họ, bao gồm việc nội dung đó được che giấu, ẩn danh hoặc mã hóa; Ai có quyền truy cập vào tài khoản và nội dung của họ và cách các quyền truy cập đó được cấp, quản lý và thu hồi

Bởi vì khách hàng giữ quyền sở hữu và kiểm soát nội dung của họ trong môi trường đám mây siêu quy mô, họ cũng có trách nhiệm liên quan đến bảo mật của nội dung đó như một phần của mô hình “trách nhiệm chung”. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô áp dụng mô hình trách nhiệm chung này không có quyền kiểm soát các quyết định này và không có quyền đưa ra các quyết định đó thay mặt Khách hàng.

Chuyển đổi số và ứng dụng đám mây trong chương trình chuyển đổi số Quốc gia:

Với những lợi ích toàn diện như vậy, Công nghệ ‘ đám mây’ được đánh giá là lựa chọn tối ưu cho doanh nghiệp khi tiến hành chuyển đổi số. Theo một nghiên cứu của Trường Kinh doanh Harvard, các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô giúp các doanh nghiệp trẻ và các công ty khởi nghiệp cắt giảm 15-27% chi phí khi mới bắt đầu kinh doanh, khuyến khích đổi mới và thu hút nhiều tài trợ hơn từ các nhà đầu tư mạo hiểm. Nghiên cứu khẳng định “sự ra đời của các dịch vụ điện toán đám mây được coi là một thời điểm quyết định giúp cắt giảm đáng kể chi phí ban đầu để bắt đầu các công ty khởi nghiệp dựa trên internet và web.”

Ở bình diện quốc gia, sự đóng góp của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô vào sự tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ là đặc biệt quan trọng vì các doanh nghiệp quy mô nhỏ nhất chiếm khoảng 50% tổng số việc làm mới, chẳng hạn như các công ty khởi nghiệp.

Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô cũng giúp các công ty lớn cắt giảm chi phí. Phần lớn các công ty trong danh sách Fortune 500 và hơn 90% trong số 100 công ty trong danh sách Fortune 100 sử dụng các giải pháp và dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô.

Với tầm quan trọng như vậy, công nghệ đám mây và quản trị dữ liệu được coi là một trong những trụ cột ưu tiên trong chương trình chuyển đổi số Quốc gia của Việt Nam. Ở cấp độ mỗi doanh nghiệp hay mỗi tổ chức; đến cấp độ Quốc gia, nhận thức đúng về tầm quan trọng, từ đó có chiến lược sử dụng tối ưu công nghệ này là mấu chốt cho sự thành công của chuyển đổi số ở Việt Nam.

Trần Đăng Quang

Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/chuyen-doi-so/cong-nghe-dam-may-va-quan-tri-du-lieu-dem-lai-su-thanh-cong-cua-chuyen-doi-so-273903.html

5G VÀ IOT SẼ THAY ĐỔI VIỄN THÔNG, KINH DOANH VÀ TIÊU DÙNG NHƯ THẾ NÀO?

Mạng 5G sẽ thúc đẩy quá trình phát triển công nghệ trong Internet of Things (Internet vạn vật hay IoT). Và khi trở nên phổ biến, cả hai sẽ hoàn toàn định hình lại bộ mặt kinh doanh và tiêu dùng của các ngành.
5G và IoT được kỳ vọng sẽ đem đến những thành tựu công nghệ mới ở nhiều lĩnh vực /// Ảnh: AFP
5G và IoT được kỳ vọng sẽ đem đến những thành tựu công nghệ mới ở nhiều lĩnh vực. (Ảnh: AFP)
Chuyên mục Intelligence của trang Business Insider đã thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu, trong đó phân tích lĩnh vực công nghệ và nhiều lĩnh vực khác để đưa ra góc nhìn tổng quan về cách mà 5G và IoT sẽ góp phần tạo nên sự chuyển mình trong tương lai của hoạt động viễn thông, kinh doanh, chính quyền, tiêu dùng công nghệ.
Trước hết, mạng 5G sẽ tạo lực đẩy cho sự phát triển của IoT qua việc cung cấp tốc độ truyền tải dữ liệu nhanh hơn (nhanh hơn 10 lần so với 4G trong một số trường hợp). Độ trễ trong giao tiếp truyền thông sẽ giảm xuống mức rất thấp là khoảng 1 mili giây, đối với 4G con số này là 50 mili giây. Băng thông của 5G cũng cao hơn gấp 10 lần so với 4G nếu xét về số lượng thiết bị được kết nối trong một hệ thống mạng.

Viễn thông

5G và IoT sẽ thay đổi viễn thông, kinh doanh và tiêu dùng như thế nào? - ảnh 1
Nokia đang cạnh tranh Ericsson và Huawei trong cuộc đua cung cấp giải pháp 5G. (Ảnh: AFP)

Đến cuối năm 2020, hơn một phần năm quốc gia trên thế giới sẽ triển khai các dịch vụ mạng 5G. Kết nối IoT toàn cầu sẽ tăng gấp đôi trong thời gian từ năm 2018 đến 2025, nhảy vọt từ 9 tỉ lên 25 tỉ. Ngành công nghiệp mạng không dây của Mỹ sẽ đầu tư lên đến 275 tỉ USD trong năm 2026 để xây dựng cơ sở hạ tầng 5G, tạo ra 3 triệu việc làm và tạo ra giá trị 500 tỉ USD cho nền kinh tế nước này.

Kinh doanh

Những tập đoàn lớn sẽ sử dụng nhiều thiết bị kết nối hơn để giám sát vận hành và tối ưu quy trình làm việc trên toàn cầu. Ba giải pháp IoT đứng đầu cho kinh doanh được dự đoán gồm: giám sát từ xa, theo dõi tài sản và quản lý cơ sở thông minh.
5G và IoT sẽ thay đổi viễn thông, kinh doanh và tiêu dùng như thế nào? - ảnh 2
Camera IoT sẽ ngày càng phổ biến ở cả môi trường làm việc lẫn nhà ở. (Ảnh: AFP)
Những thiết bị IoT giám sát từ xa đảm bảo quá trình vận hành diễn ra theo quy định và được tăng thêm hiệu quả. Với giải pháp theo dõi tài sản, thiết bị IoT giúp các công ty quản lý chặt chuỗi cung ứng, thu thập dữ liệu quan trọng để tổ chức công việc hợp lý hơn, xác định những vấn đề tiềm tàng hoặc “nút cổ chai” ảnh hưởng đến phát triển. Thêm vào đó, các cơ sở hạ tầng có sử dụng thiết bị IoT như đèn và hệ thống HVAC thông minh sẽ giúp giảm thiểu chi phí vận hành cho công ty, thông qua khả năng tự động hóa. HVAC là viết tắt của hệ thống kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí.

Chính phủ

Các chính phủ đang đầu tư vào giải pháp 5G và IoT để giảm tỷ lệ tội phạm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ phát triển và cải thiện tình trạng môi trường.
Những thành phố thông minh sẽ tận dụng sản phẩm IoT như cảm biến, hệ thống đèn và máy đo để thu thông tin quan trọng về cơ sở hạ tầng. Một số chính phủ dự kiến sẽ đầu tư gần 900 tỉ USD hằng năm vào những giải pháp thành phố thông minh vào năm 2023. Tiêu hao năng lượng vào đèn sẽ giảm đến 35% nhờ vào bóng đèn LED công suất thấp của các giải pháp chiếu sáng thông minh.

Tiêu dùng

Người tiêu dùng sẽ chi hơn 14.000 tỉ USD vào thiết bị và dịch vụ IoT, cũng như hoạt động bảo quản chúng trong năm 2026. Ericsson dự kiến sẽ có hơn 7,2 tỉ smartphone được đăng ký trên toàn cầu vào năm 2024.
5G và IoT sẽ thay đổi viễn thông, kinh doanh và tiêu dùng như thế nào? - ảnh 3
Người tiêu dùng sẽ chi mạnh hơn cho các thiết bị IoT. (Ảnh: AFP)

Phân nửa số người tham gia khảo sát của Business Insider muốn gọi và nhắn tin thông qua trợ lý trí tuệ nhân tạo như Google Assistant hay Amazon Alexa, hơn một phần ba trong số họ muốn chúng đảm nhiệm thêm vai trò là điều khiển TV.

Nguồn: https://thanhnien.vn/cong-nghe/5g-va-iot-se-thay-doi-vien-thong-kinh-doanh-va-tieu-dung-nhu-the-nao-1296338.html

10 SỰ KIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM NỔI BẬT NĂM 2020

Ngày 23/12, tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Câu lạc bộ Nhà báo Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tổ chức lễ công bố 10 sự kiện Khoa học và Công nghệ (KHCN) nổi bật năm 2020.

Chú thích ảnh
Trao chứng nhận cho đại diện các đơn vị có sự kiện được bình chọn.

Đây năm thứ 15 Câu lạc bộ Nhà báo Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức bình chọn và công bố 10 sự kiện khoa học và công nghệ nổi bật trong năm, do 60 nhà báo viết về lĩnh vực KHCN ở gần 25 cơ quan truyền thông đại chúng của trung ương và địa phương thực hiện. Tham gia bình chọn còn có sự thẩm định, đánh giá của các nhà quản lý, các nhà khoa học uy tín.

Đứng vị trí đầu tiên trong 10 sự kiện nổi bật là sự kiện Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia.

Ngày 3/6/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký Quyết định số 749 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với tầm nhìn đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp.

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu với một số chỉ số cơ bản cụ thể đến năm 2025 và 2030. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 tác động mạnh mẽ, ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế – xã hội từ đầu năm 2020 theo chiều hướng xấu, quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam đã diễn ra mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn; nhất là đối với các hoạt động kinh tế, thương mại, giáo dục, văn hóa, hành chính, giao thông – vận tải,..

Một sự kiện đặc biệt đáng chú ý khác nằm trong top 10 năm nay là những nghiên cứu thành công về virus SARS-CoV-2. Trong đó có việc nuôi cấy, phân lập virus SARS–CoV-2 trong phòng thí nghiệm. Ngày 7/2/2020, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (Bộ Y tế) công bố việc nuôi cấy và phân lập thành công virus SARS–CoV-2 trong phòng thí nghiệm. Thành công này tạo điều kiện cho việc xét nghiệm nhanh các trường hợp nhiễm và nghi nhiễm virus SARS–CoV-2. Từ kết quả này, mỗi ngày tại Việt Nam sẽ có khả năng xét nghiệm hàng nghìn mẫu bệnh phẩm trong trường hợp cần thiết. Đây là tiền đề cho việc nghiên cứu và phát triển các bộ kít xét nghiệm, cũng như vắc xin phòng chống loại virus này trong tương lai, đồng thời giúp cho việc đưa ra các biện pháp dự phòng hiệu quả hơn.

Một nghiên cứu thành công về virus SARS-CoV-2 nữa là nghiên cứu, chế tạo bộ kít chẩn đoán virus SARS–CoV- 2. Ngày 5/3/2020, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức họp báo công bố kết quả nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm (bộ kít) realtime RT PCR phát hiện virus SARS–CoV-2. Vào thời điểm đó, Việt Nam là một số ít quốc gia thành công trong việc nghiên cứu chế tạo bộ kít chuẩn đoán virus SARS CoV-2. Đây là kết quả của đề tài khoa học Nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm realtime RT PCR và RT PCR phát hiện virus SARS–CoV-2 do Học viện Quân y chủ trì phối hợp  Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á thực hiện; được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ đột xuất do yêu cầu cấp bách về phòng chống dịch bệnh COVID-19.

Đây là bộ kít chẩn đoán SARS – CoV-2 đầu tiên tại Việt Nam (do Học viện Quân y và Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á phối hợp thực hiện có sự thành công sớm nhất), được Bộ Y tế cấp số đăng ký; Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn châu Âu (CE) và cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS); WHO cấp chứng nhận chất lượng sản phẩm cho phép lưu hành toàn cầu. Đây là thành công quan trọng, có ý nghĩa lớn trong lúc dịch bệnh đang là mối lo ngại trên toàn thế giới, khẳng định trình độ của các nhà khoa học Việt Nam, cũng như sự vào cuộc kịp thời của Bộ Khoa học và Công nghệ và các đơn vị có liên quan trước những vấn đề đặt ra từ cuộc sống.

Danh sách 10 sự kiện Khoa học và Công nghệ nổi bật năm 2020:

1.Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia.

2.Những nghiên cứu thành công về virus SARS-CoV-2 : Nuôi cấy, phân lập virus SARS–Co-2 trong phòng thí nghiệm; Nghiên cứu, chế tạo bộ kít chẩn đoán virus SARS–CoV-2.

3.Xây dựng thành công công nghệ điều khiển bay và thu hồi khí cầu tầng bình lưu.

4.Bàn giao bản thảo bộ Quốc sử Việt Nam.

5.Viettel thực hiện cuộc gọi 5G đầu tiên trên thiết bị tự sản xuất.

6.Ứng dụng Bluezone được triển khai rộng rãi.

7.Hoàn thành kè bảo vệ hồ Hoàn Kiếm công nghệ bê-tông cốt phi kim thành mỏng, khối rỗng liên kết module của tác giả Hoàng Đức Thảo, Tổng giám đốc Busadco.

8.Các nhà khoa học Việt Nam tham gia một thí nghiệm được công bố trên Nature.

9.Phẫu thuật tách rời thành công cặp song sinh dính liền vùng chậu.

10.PGS.TS Đỗ Văn Mạnh nhận Giải thưởng Sáng tạo châu Á 2020.

Hiền Anh

Nguồn: https://baotintuc.vn/khoa-hoc-cong-nghe/10-su-kien-khoa-hoc-va-cong-nghe-viet-nam-noi-bat-nam-2020-20201223170429955.htm

HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG CHUYỂN ĐỔI SỐ CỦA VIỆT NAM

Muốn hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước, chúng ta phải nhanh chóng nắm bắt thời cơ, thực hiện công cuộc chuyển đổi số nhanh hơn nữa và mạnh mẽ hơn nữa.

Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Huy Dũng phát biểu tại Hội thảo Ngày Internet Việt Nam. (Ảnh: VGP/Hiền Minh)
Đây là nhấn mạnh của Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Huy Dũng tại Hội thảo Ngày Internet Việt Nam do Hiệp hội Internet Việt Nam tổ chức ngày 16/12. Đây là một trong những sự kiện lớn nhất trong năm về lĩnh vực Internet.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, năm 2020 là năm khởi động chuyển đổi số quốc gia. Công nghệ số phát triển cho phép chúng ta đưa toàn bộ hoạt động của mình lên không gian mạng thay vì chỉ đơn giản là số hóa tài liệu, số hóa quy trình như trước đây. Cuộc dịch chuyển này sẽ diễn ra với tốc độ nhanh, tạo ra tác động lớn hơn bao giờ hết trên cả 3 trụ cột là chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Hiện, Việt Nam được đánh giá là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với 68,17 triệu người dùng (chiếm 70% dân số). Khoảng 94% người dùng Việt Nam sử dụng Internet thường xuyên với thời gian sử dụng trung bình lên tới 6 tiếng mỗi ngày.

Ông Nguyễn Trọng Đường, Phó Cục trưởng Cục Tin học hóa (Bộ TT&TT) cho biết, trong nửa cuối năm 2020, đã có nhiều báo cáo chi tiết của các tổ chức quốc tế về xã hội số, chính phủ số, kinh tế số.

Cụ thể, báo cáo EGDI của Liên Hợp Quốc cho thấy, về chỉ số phát triển chính phủ điện tử, Việt Nam hiện xếp thứ 86, tăng 2 bậc và có điểm số cao hơn mức trung bình của châu Á và thế giới. Tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam hiện xếp thứ 6 về chỉ số phát triển chính phủ điện tử, sau Philippines, Brunei, Thái Lan, Malaysia và Singapore.

Về chỉ số hạ tầng viễn thông, trong năm qua, Việt Nam đã tăng 31 bậc, đứng thứ 69 thế giới. Với chỉ số xếp hạng nguồn nhân lực, Việt Nam tăng 3 bậc và xếp hạng 117. Ở chỉ số dịch vụ trực tuyến, Việt Nam bị tụt 22 bậc trên bảng xếp hạng (số liệu của Liên Hợp Quốc hiện chỉ mới cập nhật tới tháng 9/2019).

Việt Nam hiện có khoảng 45.500 doanh nghiệp ICT. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp này ước tính khoảng 126 tỷ USD. (Ảnh: VGP/Hiền Minh)

Hiện, Việt Nam có khoảng 45.500 doanh nghiệp công nghệ thông tin (ICT). Tổng doanh thu của các doanh nghiệp này ước tính khoảng 126 tỷ USD, trong đó bao gồm cả đóng góp các doanh nghiệp FDI. Tỉ trọng xuất khẩu CNTT&TT hiện chiếm khoảng 30% tổng giá trị xuất khẩu quốc gia. Xuất khẩu ICT Việt Nam hiện chiếm 3% tỉ trọng xuất khẩu ICT toàn cầu. Đây là những điểm sáng trong lĩnh vực ICT của Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng tại Hội thảo, đại diện phía doanh nghiệp, ông Lê Hồng Minh, Tổng Giám đốc VNG cũng chia sẻ, để thúc đẩy kinh tế số thì Việt Nam rất cần xây dựng một luật về bảo vệ dữ liệu quyền riêng tư vì đây là việc rất quan trọng. Mỗi người có quyền được biết dữ liệu của mình do ai thu thập, vì mục đích gì và có quyền đồng ý hoặc từ chối không cho thu thập. Trên thế giới đã có khung pháp lý cho vấn đề này để Việt Nam có thể tham khảo, ví dụ như Luật GDPR của châu Âu.

Cũng theo ông Lê Hồng Minh, bên cạnh việc tạo dựng được niềm tin thì cần một hạ tầng để phát triển kinh tế dữ liệu tại Việt Nam. Hiện tại, các nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn nằm trong dự án của các bộ, ngành riêng biệt. Cuối cùng, cơ quan quản lý cần tạo ra một nền tảng để các bên có thể chia sẻ, trao đổi dữ liệu vì việc này không doanh nghiệp nào có thể tự làm được.

Theo Thứ trưởng Bộ TT&TT, Bộ sẽ tiếp tục thực hiện một số định hướng lớn, trong đó có việc tiếp tục mở rộng khả năng tiếp cận Internet, hướng tới phổ cập Internet toàn dân. Mục tiêu của chương trình Chuyển đổi số quốc gia là mỗi người dân có một điện thoại thông minh, mỗi hộ gia đình có một đường Internet cáp quang tốc độ cao.

Một định hướng quan trọng khác là phát triển hạ tầng số quốc gia để đáp ứng các yêu cầu mới về bùng nổ thiết bị thông minh IoT và giao tiếp máy-máy. Chuyển đổi hoàn toàn Internet Việt Nam sang không gian địa chỉ IPv6 và đưa Việt Nam trở thành điểm trung chuyển (Hub Internet) của khu vực.

Bộ TT&TT cũng sẽ phát triển hệ sinh thái các nền tảng số, mở rộng không gian mạng quốc gia và phạm vi hoạt động của các nền tảng số “make in Viet Nam”. Ngoài ra, đảm bảo an toàn thông tin, làm chủ hạ tầng số, không gian mạng và bảo vệ chủ quyền số quốc gia cũng là những nhiệm vụ được ưu tiên, chú trọng.

Ngày 3/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Quyết định nêu rõ, nhiệm vụ, giải pháp tạo nền móng chuyển đổi số là chuyển đổi nhận thức; kiến tạo thể chế; phát triển hạ tầng số; phát triển nền tảng số; tạo lập niềm tin, bảo đảm an toàn, an ninh mạng; hợp tác quốc tế, nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong môi trường số. Với chương trình chuyển đổi số quốc gia được Thủ tướng phê duyệt, Việt Nam là một trong những nước tiên phong trên thế giới và đi đầu ở Đông Nam Á có một chương trình chuyên đề về chuyển đổi số. Đối với mỗi tổ chức, đây cũng được xem là thời điểm “vàng” cho chuyển đổi số và cần phải hành động ngay.

Hiền Minh

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Hien-thuc-hoa-khat-vong-chuyen-doi-so-cua-Viet-Nam/417161.vgp

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG TỪNG NGÀNH, LĨNH VỰC NHƯ THẾ NÀO?

Một số ngành, lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số trước, trong đó, chú trọng tới việc triển khai các sáng kiến nhằm liên kết giữa các ngành, lĩnh vực để cung cấp một trải nghiệm mới, mang lại giá trị cho người dân, doanh nghiệp và xã hội.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế như thế nào?

Phát triển nền tảng hỗ trợ khám, chữa bệnh từ xa để hỗ trợ người dân được khám, chữa bệnh từ xa, giúp giảm tải các cơ sở y tế, hạn chế tiếp xúc đông người, giảm nguy cơ lây nhiễm chéo; 100% các cơ sở y tế có bộ phận khám, chữa bệnh từ xa; thúc đẩy chuyển đổi số ngành y tế.

Xây dựng và từng bước hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh dựa trên các công nghệ số; ứng dụng công nghệ số toàn diện tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh góp phần cải cách hành chính, giảm tải bệnh viện, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, sử dụng hồ sơ bệnh án điện tử tiến tới không sử dụng bệnh án giấy, thanh toán viện phí, hình thành các bệnh viện thông minh; xây dựng nền tảng quản trị y tế thông minh dựa trên công nghệ số, tích hợp thông tin, dữ liệu, hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế.

Chuyển đổi số trong từng ngành, lĩnh vực như thế nào?
Chuyển đổi số trong từng ngành, lĩnh vực như thế nào?

Thử nghiệm triển khai sáng kiến “Mỗi người dân có một bác sĩ riêng” với mục tiêu mỗi người dân có một hồ sơ số về sức khỏe cá nhân, trên cơ sở đó được bác sĩ tư vấn, chăm sóc cho từng người dân như là bác sĩ riêng, hình thành hệ thống chăm sóc y tế số hoàn chỉnh từ khâu chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng đến điều trị.

Tạo hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho khám chữa bệnh từ xa và đơn thuốc điện tử cho người dân, nhằm bảo đảm người dân có thể tiếp xúc bác sỹ nhanh, hiệu quả, giảm chi phí và thời gian vận chuyển bệnh nhân.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục như thế nào?

Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa.

100% các cơ sở giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó thử nghiệm chương trình đào tạo cho phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 20% nội dung chương trình. Triển khai áp dụng mô hình giáo dục tích hợp khoa học – công nghệ – kỹ thuật – toán học và nghệ thuật, kinh doanh, doanh nghiệp, đào tạo tiếng Anh và kỹ năng sử dụng công nghệ số, bảo đảm an toàn, an ninh mạng tại các cấp học. Điều chỉnh, bổ sung chương trình đào tạo ở bậc đại học, sau đại học và dạy nghề các công nghệ số cơ bản như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và Internet vạn vật.

Cung cấp các khóa học đại trà trực tuyến mở cho tất cả người dân nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nhờ công nghệ số, đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng số. Phổ cập việc thi trực tuyến; công nhận giá trị của các chứng chỉ học trực tuyến; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập; phát triển các doanh nghiệp công nghệ phục vụ giáo dục hướng tới đào tạo cá thể hóa.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng như thế nào?

Xây dựng tài chính điện tử và thiết lập nền tảng tài chính số hiện đại, bền vững. Triển khai ứng dụng toàn diện công nghệ số trong các ngành thuế, hải quan, kho bạc, chứng khoán.

Chuyển đổi số trong các ngân hàng thương mại để cung cấp dịch vụ ngân hàng số theo hướng phát triển đa dạng các kênh phân phối, đổi mới sáng tạo, tự động hóa quy trình, thúc đẩy hợp tác với các công ty công nghệ tài chính (fintech) và trung gian thanh toán trong việc xây dựng hệ sinh thái dịch vụ tài chính ngân hàng để thúc đẩy phổ cập tài chính quốc gia, đưa dịch vụ tài chính – ngân hàng đến gần hơn những đối tượng vùng sâu, vùng xa chưa có khả năng tiếp cận hoặc chưa được ngân hàng phục vụ dựa vào sự đổi mới sáng tạo của công nghệ như thanh toán di động, cho vay ngang hàng.

Hỗ trợ khả năng tiếp cận vốn vay nhờ các giải pháp chấm điểm tín dụng với kho dữ liệu khách hàng và mô hình chấm điểm đáng tin cậy.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp như thế nào?

Phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao theo hướng chú trọng nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác, tăng tỷ trọng của nông nghiệp công nghệ số trong nền kinh tế.

Thực hiện chuyển đổi số trong nông nghiệp phải dựa trên nền tảng dữ liệu. Tập trung xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn của ngành như về đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy sản. Xây dựng mạng lưới quan sát, giám sát tích hợp trên không và mặt đất phục vụ các hoạt động nông nghiệp. Thúc đẩy cung cấp thông tin về môi trường, thời tiết, chất lượng đất đai để người nông dân nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, hỗ trợ chia sẻ các thiết bị nông nghiệp qua các nền tảng số.

Ứng dụng công nghệ số để tự động hóa các quy trình sản xuất, kinh doanh; quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm, bảo đảm nhanh chóng, minh bạch, chính xác, an toàn, vệ sinh thực phẩm. Xem xét thử nghiệm triển khai sáng kiến “Mỗi nông dân là một thương nhân, mỗi hợp tác xã là một doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số” với mục tiêu mỗi người nông dân được định hướng, đào tạo ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, cung cấp, phân phối, dự báo (giá, thời vụ, …) nông sản, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử trong nông nghiệp.

Thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong công tác quản lý để có các chính sách, điều hành kịp thời phát triển nông nghiệp như dự báo, cảnh báo thị trường, quản lý quy hoạch.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực giao thông vận tải và kho vận như thế nào?

Phát triển hệ thống giao thông thông minh, tập trung vào các hệ thống giao thông đô thị, các đường cao tốc, quốc lộ. Chuyển đổi các hạ tầng logistics (như cảng biển, cảng thủy nội địa, hàng không, đường sắt, kho vận …).

Phát triển các nền tảng kết nối giữa các chủ hàng, các nhà giao vận và khách hàng để phát triển thành một hệ thống một cửa để cho phép chủ hàng có thể tìm ra phương tiện tối ưu để vận chuyển hàng hóa và tìm các kho bãi chính xác cũng như hỗ trợ việc đóng gói và hỗ trợ đăng ký, hoàn thiện các quá trình xử lý các văn bản hành chính liên quan.

Chuyển đổi việc quản lý kết cấu hạ tầng giao thông, phương tiện kinh doanh vận tải, quản lý người điều khiển phương tiện, cho phép quản lý kết cấu hạ tầng giao thông số, đăng ký và quản lý phương tiện qua hồ sơ số, cấp và quản lý giấy phép số người điều khiển phương tiện.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực năng lượng như thế nào?

Chuyển đổi số trong lĩnh vực năng lượng, trong đó ưu tiên tập trung cho ngành điện lực hướng đến tối đa hóa và tự động hóa các mạng lưới cho việc cung ứng điện một cách hiệu quả. Kết nối các đồng hồ đo điện số để cải thiện tốc độ và sự chính xác của hóa đơn, xác định sự cố về mạng lưới nhanh hơn, hỗ trợ người dùng cách tiết kiệm năng lượng và phát hiện ra các tổn thất, mất mát điện năng.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường như thế nào?

Xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu lớn toàn diện nhằm quản lý hiệu quả lĩnh vực tài nguyên và môi trường, cụ thể như: Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; các cơ sở dữ liệu về nền địa lý quốc gia; quan trắc tài nguyên và môi trường; đa dạng sinh học; nguồn thải; viễn thám; biển và hải đảo; biến đổi khí hậu; khí tượng – thủy văn; địa chất – khoáng sản; xây dựng bản đồ số quốc gia mở làm nền tảng phát triển các dịch vụ số phát triển kinh tế – xã hội; triển khai các giải pháp thông minh trong quan trắc, giám sát, quản lý, xử lý sự cố môi trường, cảnh báo sớm thiên tai.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp như thế nào?

Chuyển đổi số trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp theo hướng chú trọng phát triển các trụ cột: xây dựng chiến lược và cơ cấu tổ chức thông minh, xây dựng nhà máy thông minh, vận hành thông minh, tạo ra các sản phẩm thông minh, xây dựng dịch vụ về dữ liệu và phát triển kỹ năng số cho người lao động.

Cục Tin học hóa – Bộ TT&TT

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/chuyen-doi-so-trong-tung-nganh-linh-vuc-nhu-the-nao-683549.html

Đăng ký nhận thông tin