TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ AI

Ở vị trí đầu tàu về đào tạo, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) của cả nước, TPHCM đã nhanh chóng xác định chiến lược phát triển thành đô thị thông minh, dẫn đầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam từ năm 2018. Trong đó, nghiên cứu triển khai trí tuệ nhân tạo (AI) được xem là nền móng cơ bản để thực hiện mục tiêu trên.

Đảm bảo về lượng lẫn chất

Theo kế hoạch tổng thể về phát triển nguồn lực công nghệ thông tin (CNTT), Việt Nam cần đến 1 triệu nhân lực CNTT vào năm 2020. Con số này nằm trong nội dung Đề án “Sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và truyền thông” được Thủ tướng phê duyệt năm 2010.

Thế nhưng, cả nước hiện chỉ có 177.000 sinh viên đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) CNTT, điện tử, viễn thông hệ chính quy đang theo học tại hơn 400 trường ĐH, CĐ. Khoảng 1/4 số sinh viên đang được đào tạo tại 8 cơ sở đào tạo trọng điểm về CNTT. Cả hệ thống đào tạo hiện chỉ có thể cung cấp khoảng 600.000 lao động CNTT.

Theo thống kê của Viện Chiến lược CNTT (Bộ TT-TT) gần đây, có 72% số sinh viên CNTT không có kinh nghiệm, thực hành; 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm và thiếu kỹ năng mềm. Chỉ khoảng 15% tân cử nhân đáp ứng được yêu cầu. Trong khi, theo Bộ KH-CN, các lĩnh vực trọng tâm CNTT đã thu hút hơn 700 công ty, trong đó có 220 công ty nước ngoài, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, hoặc bên trong các khu công nghệ phần mềm tập trung. Với riêng lĩnh vực AI, có rất ít đơn vị đào tạo.

Sinh viên ngành Công nghệ tự động hóa thực hành điều khiển robot tại phòng thí nghiệm

PGS-TS Vũ Hải Quân, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM, nhìn nhận, hiện nay chưa có một chuyên ngành/nhóm ngành đào tạo chính thức về AI ở bậc ĐH. Phần lớn kiến thức CNTT ĐH tập trung phục vụ mảng gia công phần mềm, vốn là trào lưu của thập niên trước. Chỉ một bộ phận rất nhỏ các môn học có liên quan đến AI, lại chưa được hệ thống hóa hay định hướng nghề nghiệp cụ thể.

Do đó, chúng ta cần cải tổ chương trình đào tạo để thích ứng với làn sóng công nghệ cao trên thế giới, cụ thể là thành lập Khoa AI hay các bộ môn về Thị giác máy tính, Xử lý ngôn ngữ nói, Xử lý ngôn ngữ tự nhiên, Big Data, Robotics…; liên kết doanh nghiệp AI cung cấp chương trình Intership, thực tập và hướng nghiệp, bổ sung trang thiết bị hiện đại cho chương trình AI: cụm server, computing cluster, GPU, robot, thiết bị IoT…, tổ chức hội thi học thuật (challenges) giải quyết các vấn đề về AI trong công nghiệp.

Cần giải pháp mang tính chiến lược

Theo các chuyên gia, để có nguồn nhân lực mang tính chiến lược, TPHCM cùng nhiều bên cần nhận diện thực trạng và các tiền đề quan trọng về nguồn lực KH-CN, nhu cầu thị trường, khả năng triển khai ứng dụng sau nghiên cứu và chủ động đặt vấn đề phát triển đô thị thông minh, khu đô thị sáng tạo; trong đó tập trung ươm mầm tiềm năng AI quốc gia, phát triển nhân tài và từng bước hoàn chỉnh hệ sinh thái AI. Khi tiềm lực về AI và CNTT đủ lớn, TPHCM có thể định hướng phát triển thành một trung tâm dữ liệu của Đông Nam Á tới năm 2030 để vươn tầm khu vực và thế giới.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng đô thị thông minh, khu đô thị sáng tạo, cần vạch ra những chiến lược cả ngắn hạn và dài hạn, trong đó tập trung 3 mũi nhọn: công tác nghiên cứu và đào tạo, nắm bắt công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong nghiên cứu và đào tạo, cần đầu tư vào AI thông qua các quỹ nghiên cứu và hỗ trợ, liên kết chặt chẽ với đối tác trong và ngoài nước để tập trung được thế mạnh tổng hợp vì một trường ĐH hay viện nghiên cứu đơn lẻ không thể gánh vác hết.

Ý tưởng về trường ĐH chia sẻ có thể tập trung cơ sở vật chất nhưng đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau để tận dụng được ưu điểm, thế mạnh của tất cả đơn vị… TPHCM cần có bộ chính sách quy định trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên; thỏa thuận khung quy định vai trò và trách nhiệm của TPHCM và các trường ĐH trong bức tranh toàn cục của đề án. Sau tất cả, mục tiêu chính của công tác này là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao về CNTT và AI.

PGS-TS Vũ Hải Quân cho rằng, tiềm lực các nhóm nghiên cứu mạnh, chuyên sâu sẽ quyết định trực tiếp khả năng thành công trong phát triển AI và định hướng đào tạo nguồn nhân lực. Nhóm nghiên cứu vừa mở đường công nghệ, vừa tham chiếu học thuật, vừa là niềm tin, động lực cho thế hệ trẻ.

Tiêu điểm của chiến lược này gồm tài trợ cho các nhóm nghiên cứu lớn tại TPHCM mảng AI và liên ngành ứng dụng AI chủ chốt… TPHCM cần tạo điều kiện, khuyến khích xây dựng nhóm nghiên cứu AI cho các trường có thế mạnh (trong đó có ĐH Quốc gia TPHCM), mở quỹ đầu tư và phát triển các phòng thí nghiệm về AI, hỗ trợ nghiên cứu khoa học nhằm tạo điều kiện cho cá nhân, nhóm nghiên cứu đi sâu vào nhiều lĩnh vực khác nhau; hướng đến các công bố có uy tín cấp khu vực và quốc tế, nâng cao và khẳng định vị thế của Việt Nam trong giới nghiên cứu quốc tế lĩnh vực AI; tạo ra các cuộc thi học thuật với dữ liệu và bài toán thực tế từ nhu cầu của thành phố, khuyến khích các nhóm nghiên cứu, cá nhân, doanh nghiệp giải quyết về mặt học thuật.

THANH HÙNG

Nguồn: https://www.sggp.org.vn/tao-nguon-nhan-luc-cong-nghe-ai-716742.html

INTERNET VẠN VẬT TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ với mạng internet, thiết bị thông minh, phần mềm điều khiển… được kết nối với nhau tạo thành hệ thống “internet vạn vật” (tiếng Anh là Internet of things) có thể giải quyết nhanh chóng các nhu cầu của con người.

SỰ THÔNG MINH VÀ TÍNH PHỨC TẠP

Cụm từ “Internet vạn vật” được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1999, bởi Kevin Ashton, nhà khoa học sáng lập Trung tâm Nhận dạng tự động (Auto-ID) thuộc Viện Công nghệ Massachusetts – MIT (Mỹ), nơi nghiên cứu, thiết lập các quy chuẩn toàn cầu cho phương thức giao tiếp không dây dùng sóng radio, cũng như một số loại cảm biến khác. Internet vạn vật là một kịch bản kết nối của thế giới, khi mỗi đồ vật, từng con người được cung cấp một định danh của riêng mình và có khả năng truyền tải, trao đổi thông tin, dữ liệu qua mạng duy nhất mà không cần đến sự tương tác trực tiếp giữa người với người hay người với máy tính. Internet vạn vật được phát triển trên cơ sở hội tụ công nghệ không dây, công nghệ vi cơ điện tử và mạng internet, gồm các đối tượng “thông minh” được điều khiển và tương tác với nhau, cung cấp các dịch vụ và giải pháp mà không cần sự can thiệp của con người. Sự xuất hiện của hệ thống này có thể làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của con người trong tương lai không xa. Khi mọi vật được “internet hóa”, người dùng có thể điều khiển chúng từ bất kỳ nơi nào, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian.

Internet vạn vật có hai đặc điểm nổi bật, đó là sự thông minh và tính phức tạp. Tương lai của internet vạn vật là một mạng lưới các thực thể thông minh có khả năng tự tổ chức và hoạt động riêng lẻ tùy theo tình huống, môi trường; đồng thời, liên lạc được với nhau để trao đổi thông tin, xử lý dữ liệu. Việc kết hợp trí tuệ nhân tạo đã giúp các thiết bị, máy móc, phần mềm thu thập và phân tích các dấu vết điện tử của con người khi chúng ta tương tác với những thứ thông minh, từ đó phát hiện ra tri thức mới liên quan tới cuộc sống, môi trường, các mối tương tác xã hội cũng như hành vi của con người. Đồng thời, các thực thể, máy móc trong hệ thống này sẽ phản hồi dựa trên các sự kiện diễn ra theo thời gian thực. Bên cạnh đó, hệ thống này có tính chất phức tạp bởi bao gồm một lượng lớn các đường liên kết giữa những thiết bị, máy móc, dịch vụ và không ngừng phát triển bởi khả năng thêm vào các nhân tố mới. Một mạng lưới internet vạn vật có thể chứa từ 50 đến 100 nghìn tỷ đối tượng được kết nối và có thể theo dõi sự di chuyển của từng đối tượng.

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN

Theo thống kê của giới chuyên gia công nghệ, trên thế giới hiện có khoảng 11 tỷ thiết bị được kết nối internet và trung bình mỗi giây có thêm 80 thiết bị mới được nối mạng. Tuy nhiên, hiện vẫn còn tới 99% sự vật trong thế giới vật lý chưa được tích hợp internet và con người vẫn đang tiếp tục hành trình “kết nối những gì chưa được kết nối”. Theo dự báo đến năm 2025, có khoảng 50 tỷ đồ vật được kết nối internet, trong đó có hàng tỷ thiết bị di động, hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển vượt trội đối với internet vạn vật, bao gồm những lĩnh vực nổi bật sau:

Quản lý năng lượng thông minh: Đây là một trong những mục tiêu hàng đầu khi phát triển internet vạn vật. Trong cuộc sống, con người sử dụng rất nhiều năng lượng tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn năng lượng này không phải vô hạn và có thể tái tạo. Theo đó, bài toán đặt ra là làm thế nào để tối ưu hóa mức tiêu thụ năng lượng của các thiết bị, và một trong các giải pháp là làm cho các thiết bị đó trở nên thông minh hơn, có khả năng nhận biết môi trường xung quanh, lập lịch và điều khiển từ xa. Các hệ thống chiếu sáng có khả năng cảm nhận được môi trường xung quanh để điều chỉnh thời gian bật, tắt phù hợp. Hệ thống tưới nước thông minh có thể theo dõi diễn biến của thời tiết để thiết lập lịch trình và tự động tưới chính xác lượng nước vào đúng thời điểm thích hợp nhằm tiết kiệm điện, nước…

Giao thông thông minh: Hiện nay, tại các thành phố lớn, vấn đề quản lý, điều hành giao thông trở nên phức tạp bởi mật độ phương tiện tăng cao vào giờ cao điểm, hoặc do thời tiết xấu làm ảnh hưởng tới việc di chuyển của các phương tiện dẫn tới tình trạng ùn tắc đường. Nhờ internet vạn vật, người ta có thể quản lý, điều hành giao thông đơn giản, hiệu quả hơn. Các bộ cảm biến sẽ cho biết tình trạng mặt đường, mật độ phương tiện đang lưu thông và cảnh báo trước khả năng ùn tắc cục bộ để điều chỉnh phân luồng, thời gian cho đèn tín hiệu giao thông. Ngoài ra, xe ô tô tự hành cũng có khả năng theo dõi thời tiết, tình trạng giao thông để tính toán thời gian cũng như xác định tuyến đường để tránh ùn tắc.

Mô hình nhà thông minh. Ảnh: Internet

Nhà thông minh: Đây là một trong những ứng dụng phổ biến nhất của internet vạn vật, khi tất cả thiết bị trong nhà đều có thể được kết nối với nhau và với mạng internet. Qua ứng dụng trên các thiết bị, như: điện thoại thông minh, máy tính… người sử dụng có thể điều khiển, lập lịch, giám sát hoạt động của mọi thiết bị trong nhà. Khi chúng ta về đến nhà, cửa sẽ tự động mở, đèn tự sáng, rèm được kéo ra, tivi sẽ tự bật kênh yêu thích. Các thiết bị thông minh trong nhà cũng có thể tự thay đổi nhiệt độ trong phòng tùy theo cảm ứng nhiệt độ ngoài trời, hoặc theo ý muốn người sử dụng. Chúng ta cũng không phải lo lắng khi ra ngoài mà quên chưa khóa cửa bởi sự ra đời của các loại khóa cửa thông minh, có thể mở hoặc khóa bằng các thiết bị di động.

Thiết bị y tế thông minh: Các trang, thiết bị này có thể giúp các bệnh viện giải quyết các tình huống như hội chẩn các ca mổ phức tạp, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia mổ từ xa. Các thiết bị theo dõi sức khỏe, kiểm soát huyết áp, nhịp tim, đường huyết… hỗ trợ các bác sỹ điều trị, kiểm soát chế độ ăn uống sinh hoạt của người bệnh. Công nghệ theo dõi (tracking) kết hợp với công nghệ nhận dạng (identification) có thể giúp giảm thiểu sai sót trong quá trình khám, chữa bệnh, như: tránh uống hoặc tiêm nhầm thuốc, nhầm liều, điều trị sai phác đồ, theo dõi tình trạng sức khỏe bệnh nhân sau điều trị… Internet vạn vật còn giúp cảnh báo, khoanh vùng dịch bệnh thông qua các cảm biến theo dõi, giám sát thông tin dịch tễ của người bệnh.

Lĩnh vực quốc phòng – an ninh: Internet vạn vật cung cấp khả năng giám sát hệ thống cảnh báo quốc gia, giúp người chỉ huy nhận biết tổng quan về môi trường tác chiến, v.v.. Dựa trên nguyên lý hoạt động của internet vạn vật, hàng loạt vũ khí, trang bị không người lái đã và đang được sản xuất, làm thay đổi diện mạo các cuộc chiến tranh hiện đại. Tuy nhiên, “mặt trái” của internet vạn vật cũng đặt ra một số vấn đề về an ninh – quốc phòng mà các nhà khoa học quân sự đang tập trung giải quyết. Đó là vấn đề kiểm soát, bảo mật thông tin cá nhân, bí mật quân sự; vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao để làm chủ và khai thác hiệu quả các loại vũ khí, trang bị đang ngày càng trở nên “thông minh” hơn, được lập trình và điều khiển từ xa.

Tiềm năng kinh tế: Theo dự báo của giới chuyên gia tài chính, internet vạn vật sẽ mang lại lợi nhuận về kinh tế lên tới 19 nghìn tỷ USD vào năm 2024 và góp phần gia tăng 21% lợi nhuận cho các doanh nghiệp trên toàn cầu từ nay đến năm 2025. Internet vạn vật hiện là một trong những lĩnh vực màu mỡ, dễ sinh lời cho các nhà sản xuất thiết bị, phát triển phần mềm.

CÁC LĨNH VỰC CẦN NGHIÊN CỨU

Sự phát triển bùng nổ của internet vạn vật là xu thế tất yếu, do vậy, để bắt kịp tốc độ phát triển, tăng cường lợi ích và hạn chế những tác động không mong muốn, các quốc gia đang thúc đẩy nghiên cứu tập trung vào một số lĩnh vực sau:

Đạo đức thông tin: Trong thời đại công nghệ thông tin, các doanh nghiệp hưởng lợi trực tiếp từ việc sở hữu và thu thập thông tin từ người dùng, kể cả những thông tin riêng tư cho mục đích phân tích, giúp doanh nghiệp đạt doanh thu cao hơn. Những thông tin này được thu thập, mã hóa và phân tích vì mục đích không chính đáng đã gây ảnh hưởng và xâm phạm quyền riêng tư của người khác. Việc nghiên cứu và ứng dụng internet vạn vật không chỉ làm thay đổi cách sống của con người hiện đại, mà còn cả cách con người hiểu về bản thân, xã hội, các mối quan hệ, triết lý sống và thế giới quan của họ. Do vậy, vấn đề đạo đức trong ứng dụng internet vạn vật cần phải được đặc biệt coi trọng.

Nghiên cứu kỹ thuật: Nghiên cứu kỹ thuật đối với internet vạn vật rất phức tạp và mang tính chuyên môn cao, như: xác định tần số vô tuyến, khắc phục va chạm và nhiễu các nút thông tin, kỹ thuật địa phương hóa, an ninh mạng và đặc biệt là IPv6 (giao thức liên mạng thế hệ 6 nhằm gia tăng số lượng địa chỉ internet toàn cầu, với chuỗi địa chỉ 128 bit thay cho 32 bit như phiên bản IPv4 hiện nay)…

Nghiên cứu ứng dụng: Có thể chia việc nghiên cứu ứng dụng internet vạn vật làm 4 nhóm chính, gồm: giao thông vận tải và hậu cần; chăm sóc sức khỏe; môi trường thông minh (nhà ở, văn phòng, nhà máy) và cá nhân – xã hội. Trên thực tế, ứng dụng của internet vạn vật còn có thể được chia theo hai nhóm chính: nhóm hiện hữu và nhóm tương lai. Các ứng dụng hiện hữu phù hợp với trình độ khoa học – kỹ thuật sẵn có, còn các ứng dụng tương lai mang tính viễn cảnh mà khoa học – kỹ thuật hiện chưa đủ khả năng thực hiện.

Có thể thấy, phát triển hệ thống internet vạn vật là xu thế tất yếu và hứa hẹn tiềm năng rất lớn, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho đời sống xã hội. Chính vì vậy, việc nghiên cứu phát triển, ứng dụng internet vạn vật nhằm phát huy lợi ích và quản lý, giám sát ngăn ngừa rủi ro cần phải được quan tâm giải quyết ngay từ bây giờ.

HẢI PHONG

Nguồn: http://tapchi.vdi.org.vn/article/2435/internet-van-vat-trong-xa-hoi-hien-ai

CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO ĐẾN NĂM 2030

Nghiên cứu, làm chủ, phát triển công nghệ cao, ứng dụng hiệu quả công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường, sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ; hình thành, phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực này.

Ảnh minh họa

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030.

Mục tiêu cụ thể của Chương trình là phát triển và làm chủ được 20 công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, ứng dụng có hiệu quả vào hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao của doanh nghiệp.

Gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 60% tổng giá trị xuất khẩu trong công nghiệp chế biến chế tạo, tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao.

Xây dựng và phát triển khoảng 500 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; xây dựng và phát triển khoảng 200 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có sự hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên phạm vi cả nước.

Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030 bao gồm 3 chương trình thành phần: 1- Chương trình nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao, phát triển sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì; 2- Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao do Bộ Công Thương chủ trì; 3- Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.

Để đạt mục tiêu trên, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Chương trình gồm: Hoàn thiện thể chế; hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ sử dụng kết quả nghiên cứu, thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ; hỗ trợ và tạo điều kiện cho ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ cao; nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và tác động của công nghệ cao.

Chí Kiên

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Chuong-trinh-quoc-gia-phat-trien-cong-nghe-cao-den-nam-2030/421182.vgp

PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ: QUÁ TRÌNH KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC

Đó là nhận định được Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng đưa ra tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2019.

Xu thế toàn cầu

Công nghệ số, chuyển đổi số, kinh tế số, kỷ nguyên số là một quá trình nhiều thập niên. Quá trình sáng tạo, sản xuất kinh doanh ngày càng diễn ra nhiều hơn trên không gian mạng. Với sự xuất hiện của cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0, thế giới đang ở điểm gẫy của quá trình chuyển đổi số. Đây là cơ cho Việt Nam thực hiện hóa khát vọng Việt Nam hùng cường.

Kinh tế số là các hoạt động kinh tế có sử dụng thông tin số, tri thức số như là yếu tố sản xuất chính; sử dụng mạng Internet, mạng thông tin làm không gian hoạt động; và sử dụng ICT, tức là viễn thông và CNTT, để tăng năng suất lao động, và để tối ưu nền kinh tế. Nếu nói đơn giản thì là nền kinh tế liên quan đến công nghệ số.

Theo nghĩa hẹp thì kinh tế số chỉ liên quan đến lĩnh vực ICT. Theo nghĩa rộng thì là những lĩnh vực gần gũi với công nghệ số, thí dụ như các nền tảng số. Theo nghĩa rộng nhất thì là tất cả các lĩnh vực mà có sử dụng công nghệ số.

Kinh tế số giúp tăng năng suất lao động, giúp tăng trưởng kinh tế. Kinh tế số cũng giúp tăng trưởng bền vững, tăng trưởng bao trùm, vì sử dụng tri thức nhiều hơn là tài nguyên. Chi phí tham gia kinh tế số thấp hơn nên tạo ra cơ hội cho nhiều người hơn. Công nghệ số là không biên giới nên sẽ làm giảm khoảng cách nông thôn và thành thị. Công nghệ số cũng cho chúng ta những cách tiếp cận mới, giải pháp mới để giải quyết hiệu quả những vấn đề tồn tại lâu dài của loài người, như: ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, đo lường tâm trạng xã hội, sự tham gia của người dân vào hoạch định chính sách…

Ở Việt Nam, kinh tế số xuất hiện từ khi có máy tính, đặc biệt là khi có máy tính cá nhân, vào cuối những năm 1980; bắt đầu mạnh mẽ là khi có Internet, vào cuối những năm 1990; phổ cập là khi mật độ điện thoại thông minh trên 50%, vào cuối những năm 2000; và được thúc đẩy mạnh mẽ là khi xuất hiện CMCN 4.0, vào cuối những năm 2010.

Số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách

Kinh tế số Việt Nam thời gian qua cơ bản là phát triển tự phát, nhưng phát triển khá nhanh. Cách nhanh nhất đẩy nhanh nền kinh tế số là sử dụng công nghệ số để thay đổi cách chúng ta đang sản xuất, đang làm việc. Đơn cử, dùng camera để giảm người bảo vệ, đó chính là kinh tế số. Tự động tưới cây khi đất khô, đó cũng chính là kinh tế số. Dùng văn bản điện tử thay giấy tờ cũng là số hóa nền kinh tế. Cuộc cách mạng toàn dân khởi nghiệp công nghệ số, phổ cập công nghệ số sẽ giúp Việt Nam số hóa nền kinh tế rất nhanh.

Công nghệ số sẽ sinh ra những mô hình kinh doanh mới, thách thức mới hoặc thay thế mô hình kinh doanh cũ.

Phát triển kinh tế số: Quá trình không thể đảo ngược
Kinh tế số giúp tăng năng suất lao động, giúp tăng trưởng kinh tế 

Nhiều người nói, số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Đầu tiên phải là chấp nhận các mô hình kinh doanh mới, chấp nhận các công nghệ mới làm thay đổi căn bản các ngành, gọi là X-tech. Những X-tech này (Fintech, EdTech, AgriTech…) thường là sự sáng tạo mang tính phá hủy cái cũ. Nếu chúng ta chấp nhận cái mới thì công nghệ mới của thế giới sẽ về, người tài trên toàn cầu sẽ về, và nền công nghiệp mới sẽ xuất hiện. Khi ấy, cái nôi Việt Nam sẽ tạo ra các sản phẩm công nghệ số xuất khẩu được.

5 yếu tố nền tảng hỗ trợ phát triển kinh tế số

Cách tiếp cận chính sách theo cách truyền thống thường là: Quản được thì mở, quản đến đâu thì mở đến đó, không quản được thì đóng. Cách tiếp cận mới mà nhiều nước áp dụng, gọi là cách tiếp cận Sandbox: Cái gì không biết quản như nào thì không quản, cho tự phát triển, nhưng trong một không gian nhất định, trong một thời gian nhất định, để các vấn đề được bộc lộ một cách rõ ràng, mà thường là không nhiều như lúc đầu các nhà quản lý dự đoán. Sau đó mới hình thành chính sách, hình thành qui định để quản lý. Đây là một trong những cách tiếp cận chính sách phù hợp với cuộc CMCN 4.0.

Những yếu tố mang tính nền tảng để hỗ trợ phát triển kinh tế số Việt Nam gồm:

Thứ nhất, hạ tầng viễn thông – CNTT – công nghệ số hiện đại, ngang tầm thế giới. Khi ấy băng thông rộng, tốc độ cao cộng với việc mỗi người dân có một điện thoại thông minh, sau đó là công nghệ 5G xuất hiện ở Việt Nam sẽ đưa nước ta cùng nhịp với các nước phát triển;

Thứ hai, các chính sách của Chính phủ liên quan tới kinh tế số, công nghệ số, Internet phải có tính cạnh tranh toàn cầu để người Việt Nam không phải ra nước ngoài khởi nghiệp công nghệ số mà còn đưa người nước ngoài, tài năng toàn cầu về Việt Nam phát triển công nghệ;

Thứ ba, Chính phủ chi tiêu nhiều cho sản phẩm công nghệ số, đi đầu về kinh tế số thông qua xây dựng Chính phủ điện tử, nhằm tạo ra thị trường ban đầu để phát triển doanh nghiệp công nghệ, toàn dân khởi nghiệp công nghệ số; Thứ tư là đào tạo nhân lực, song song với việc đưa đào tạo tiếng Anh và CNTT vào chương trình đào tạo bắt buộc.

Ba bước để chuyển đổi số

Để chuyển đổi số, Việt Nam có thể chọn chiến lược 3 bước: Bước một, đẩy nhanh việc số hóa các lĩnh vực, các ngành công nghiệp, đẩy nhanh chuyển đổi số Chính phủ, chuyển đổi số doanh nghiệp, chuyển đổi số trong xã hội, nhằm tăng hiệu quả hoạt động, tăng năng suất lao động và tạo ra các cơ hội tăng trưởng mới. Bước hai, sử dụng số hóa như một lợi thế cạnh tranh trong nước và toàn cầu. Bước ba, tiến tới nền kinh tế số toàn diện, mọi lĩnh vực được số hóa, hình thành các ngành công nghiệp số thế hệ mới, các ngành công nghiệp mới này sẽ là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Và cuối cùng, khi cuộc cách mạng số, CMCN 4.0 xảy ra thì tương lai không nằm trên đường kéo dài của quá khứ. Các nước như Việt Nam chúng ta có cơ hội bứt phá. Nhưng phải là một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự. Cả quản lý nhà nước, cả doanh nghiệp, đều cần một sự đột phá trong tư duy, trong chính sách, trong cách tiếp cận.

VietNamNet

VỐN FDI VÀO VIỆT NAM NĂM 2021 TĂNG MẠNH

Ngay từ những ngày đầu năm 2021, hàng loạt dự án FDI lớn được trao giấy chứng nhận đầu tư. Các chuyên gia nhận định, năm 2021, dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ tăng mạnh.

Bộ KH&ĐT tổ chức nhiều cuộc xúc tiến đầu tư thông qua hình thức trực tuyến với các đối tác châu Âu, châu Á (Nhật Bản, Singapore).Thông qua cuộc tiếp xúc đầu tư, nhiều tập đoàn lớn như Apple, Foxconn, Luxshare triển khai kế hoạch gia tăng đặt hàng nhà cung ứng và gia tăng hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) cho thấy, trong tháng 1/2021, tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 2,02 tỷ USD. Trong đó, vốn thực hiện đạt 1,51 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Cả nước đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 47 dự án mới, điều chỉnh tăng vốn cho 46 lượt dự án và cấp phép cho gần 200 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Với thành tích trong kiểm soát, khống chế dịch bệnh, ngay những ngày đầu năm 2021, các địa  phương đã đồng loạt trao giấy chứng nhận đầu tư cho nhiều dự án FDI lớn. Ngày 18/1, UBND tỉnh Bắc Giang trao giấy chứng nhận đầu tư dự án Nhà máy Fukang Technology ở Khu công nghiệp Quang Châu (Việt Yên, Bắc Giang) cho Tập đoàn Foxconn Singapore Pte Ltd. Theo kế hoạch, Fukang sẽ sản xuất, gia công máy tính bảng và máy tính xách tay, với quy mô hơn 8 triệu sản phẩm/năm. Với tổng vốn đầu tư 270 triệu USD, dự kiến dự án sẽ hoạt động vào quý 3/2022. Đây là một trong những bước mở rộng hoạt động tại Việt Nam của Tập đoàn Foxconn. Đến cuối năm 2020, Foxconn đã đầu tư tại Việt Nam 1,5 tỷ USD.

Cũng ngay trong tháng 1/2021, tỉnh Quảng Bình trao quyết định chủ trương đầu tư 14 dự án với tổng vốn khoảng 1 tỷ USD và ký biên bản ghi nhớ hợp tác 23 dự án cho 18 nhà đầu tư. Tỉnh Nghệ An trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Công ty TNHH Công nghệ EverwinPrecision Việt Nam. Dự án có tổng mức đầu tư 200 triệu USD, tại Khu Công nghiệp đô thị và Dịchvụ VSIP Nghệ An, dự kiến sẽ thu hút 15.000 lao động. Tỉnh Đồng Nai thu hút được 11 dự án FDI, trong đó có 3 dự án cấp mới, 8 dự án tăng vốn với tổng số vốn hơn 226 triệu USD. Đây là con số cao nhất so với cùng kỳ khoảng 5 năm qua.

Với kết quả khởi sắc ngay từ những ngày đầu năm, các chuyên gia cho rằng, tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2021 sẽ cao hơn mức 28,5 tỷ USD (vốn đăng ký) và 19,9 tỷ USD (vốn thực hiện) như mục tiêu đã đề ra.

Đăng ký nhận thông tin