SẼ NÂNG TẦM HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA

Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tập trung ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ… nhằm cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.   

Chú thích ảnh
Khách tham quan triển lãm các sản phẩm công nghệ tại Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia năm 2019 (Techfest 2019). Ảnh tư liệu: Minh Quyết/TTXVN

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết: Việc xây dựng và đẩy mạnh, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam là quá trình đầu tư lâu dài của Chính phủ cùng với quá trình phát triển của đất nước và doanh nghiệp. Trước mắt, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia và tăng cường sự gắn kết, hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp để đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong sản xuất, kinh doanh; Kết nối các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước, phát huy vai trò của hệ thống các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, gắn kết với các địa phương thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mang lại hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh tế – xã hội các địa phương.

Theo đó, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thực hiện các giải pháp nâng tầm hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia; hình thành và phát triển Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia tại 3 khu vực là: Thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò hạt nhân kết nối, phát triển hệ sinh thái và hình thành mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; khuyến khích sự tương tác, kết nối nguồn lực giữa hệ thống các Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nước và quốc tế. Đồng thời, phát triển 3 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi thế giới và 1 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương đến năm 2025. Đến năm 2030, phát triển 5 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi thế giới và 2 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương.

Ngoài ra, Bộ cũng đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ cao gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị; phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái số với các nền tảng dùng chung, các dịch vụ, mô hình kinh doanh mới; từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế số.

HL (TTXVN)

THỜI CƠ, VẬN HỘI MỚI ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ SỐ, XÃ HỘI SỐ VIỆT NAM

Mùa xuân Tân Sửu này, khi đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, đất nước rộn ràng chuyển mình sang nhịp sống mới, trạng thái bình thường mới, trong đó có nhiều thời cơ, vận hội mới để phát triển nền kinh tế số, xã hội số ở nước ta.

Điểm đến hấp dẫn

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo các bộ, ban, ngành tham dự lễ khai trương Cổng Dịch vụ công quốc gia tại Hà Nội – Ảnh: VGP

Vượt qua muôn vàn khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ về kinh tế số, xã hội số.

Theo báo cáo “Nền kinh tế số Đông Nam Á năm 2019” do Google, Temasek và Bain thực hiện, nền kinh tế số Việt Nam năm 2019 trị giá 12 tỷ USD, cao gấp 4 lần so với giá trị của năm 2015 và dự đoán chạm mốc 43 tỷ USD vào năm 2025. Nhờ có nền kinh tế số mà các ngành nghề kinh doanh sôi động hẳn lên, từ thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến trên các trang mạng xã hội (Facebook, instagram), giải trí (Netflix, Pinterest), giao thông vận tải (Uber, Grab, GoViet) đến phân phối, bán buôn và bán lẻ (Lazada, Shopee)… Cụ thể, quy mô thị trường thương mại điện tử khoảng 5 tỷ USD, trong khi du lịch trực tuyến khoảng 4 tỷ USD, truyền thông trực tuyến đạt 3 tỷ USD, gọi xe công nghệ khoảng 1 tỷ USD. Nước ta cũng trở thành nơi đón nhận nguồn vốn đầu tư đứng thứ 3 trong khu vực vào các công ty hoạt động trên nền tảng công nghệ thông tin, internet; với 0,35 tỷ USD cho 137 thương vụ trong năm 2018 và 0,26 tỷ USD cho 54 thương vụ trong năm 2019. Một số thương vụ đầu tư vào MoMo, Sendo, Topica từ các nhà đầu tư quốc tế, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến tích cực trong xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần tạo nền tảng để phát triển nền kinh tế số, xã hội số. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết Văn phòng Chính phủ đã chủ trì, cùng với các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn công nghệ thông tin, chuyên gia tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và có kết quả cụ thể để thúc đẩy nền kinh tế số và xã hội số tại Việt Nam. Cụ thể như: 1- Trục liên thông văn bản quốc gia được khai trương từ ngày 12/3/2019, đến ngày hết tháng 12/2020 đã kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử giữa 95/95 cơ quan trung ương và địa phương; hơn 3,6 triệu văn bản điện tử, gửi nhận qua Trục, giúp tiết kiệm được trên 1.200 tỷ đồng/năm. 2- Với Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet), chi phí tiết kiệm được khi sử dụng Hệ thống là khoảng 169 tỷ đồng/năm. 3- Sau một năm vận hành chính thức Cổng dịch vụ công quốc gia đã có hơn 2.650 dịch vụ công được tích hợp, cung cấp trên tổng số gần 6.700 thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền. Chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến trên Cổng là hơn 6.700 tỷ đồng/năm. 4- Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kết nối với 14 bộ, cơ quan, 37 địa phương và 106/200 chỉ tiêu kinh tế-xã hội. Chi phí tiết kiệm khi vận hành Hệ thống này khoảng 460 tỷ đồng/năm.

Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, đến nay đã có hơn 23 triệu người dân đã dùng ứng dụng công nghệ để chống dịch COVID-19. Trong lĩnh vực giáo dục, có 53.000 trường học, 1,4 triệu giáo viên, 23 triệu học sinh. 80% học sinh, sinh viên học trực tuyến trong giai đoạn cao điểm của đại dịch COVID-19, cao hơn mức trung bình của các nước là 67,15%.

Tuy nhiên, mức độ chủ động tham gia phát triển nền kinh tế số nước ta còn không ít hạn chế, có phần tự phát. Thể chế, chính sách còn nhiều bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội; hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia mới được hình thành, chưa đồng bộ và hiệu quả. Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp. Kinh tế số có quy mô còn nhỏ. Việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức.

Thời cơ, vận hội mới để phát nền kinh tế số, xã hội số tại Việt Nam

hời cơ, vận hội mới để phát triển xã hội số, kinh tế số – Ảnh minh họa

Đầu tháng 1/2021, Đại hội Đảng lần thứ XIII đã nhất trí thông qua Nghị quyết của Đại hội, khẳng định rõ, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Phát biểu tại Đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số.

Trước đó, tháng 9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong đó nêu rõ, yêu cầu cấp bách phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, Việt Nam thuộc nhóm ít các nước trên thế giới sớm ban hành chiến lược chuyển đổi số quốc gia, chiến lược về một quốc gia số. Với mục tiêu rất cao mà Chương trình đề ra, cần phải quyết liệt phấn đấu mới thực hiện được như: Đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP; năm 2030 chiếm 30% GDP; 50% dân số có tài khoản thah toán điện tử vào năm 2025 và đến năm 2030 là 30% dân số…

Để triển khai thực hiện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cam kết đổi mới, ứng dụng công nghệ mới, thúc đẩy công nghiệp sáng tạo phát triển. Thủ tướng Chính phủ cũng cho phép chấp nhận thử nghiệp sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số trong khi quy định pháp lý chưa đầy đủ, rõ ràng. Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành chức năng có liên quan nghiên cứu, đề xuất ngay chính sách, quy định cụ thể về thuế, phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng, cung cấp các dịch vụ số.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, để chuyển đổi số, Việt Nam có thể chọn chiến lược 3 bước: Bước một, đẩy nhanh việc số hóa các lĩnh vực, các ngành công nghiệp, đẩy nhanh chuyển đổi số chính phủ, chuyển đổi số doanh nghiệp, chuyển đổi số trong xã hội, nhằm tăng hiệu quả hoạt động, tăng năng suất lao động và tạo ra các cơ hội tăng trưởng mới. Bước hai, sử dụng số hóa như một lợi thế cạnh tranh trong nước và toàn cầu. Bước ba, tiến tới nền kinh tế số toàn diện, mọi lĩnh vực được số hóa, hình thành các ngành công nghiệp số thế hệ mới, các ngành công nghiệp mới này sẽ là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế. Đồng thời, mỗi quốc gia muốn phát triển bứt phá vươn lên đều phải khơi dậy được sức mạnh tinh thần của dân tộc. Cuộc cách mạng số, cách mạng công nghiệp 4.0 xảy ra thì tương lai sẽ không nằm trên đường kéo dài của quá khứ. Các nước như Việt Nam có cơ hội bứt phá. Nhưng phải là một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự.

Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, Việt Nam đang sở hữu lợi thế vô cùng to lớn về nguồn lực con người với tư chất thông minh, cần cù và với những chính sách nhất quan Đảng, Chính phủ đã ban hành đã ban hành trong thời gian qua và sắp tới đây là thiên thời, địa lợi cho phát triển kinh tế số, xã hội số. Do vậy, hơn lúc nào hết, trong khi đại dịch COVID-19 diễn biến còn phức tạp, càng  cần tạo ra làn sóng, động lực quốc gia về phát triển kinh tế số và có thể bắt đầu ngay từ mùa xuân Tân Sửu này.

Đây chính là thời cơ mới, vận hội mới cho phát triển kinh tế số, xã hội số, đưa nước ta sớm trở thành quốc gia số, tạo lợi thế trong cạnh tranh toàn cầu, góp phần quan trọng để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội./.

Lê Việt

Nguồn: https://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thoi-co-van-hoi-moi-de-phat-trien-nen-kinh-te-so-xa-hoi-so-Viet-Nam/423215.vgế

VR VÀ AR: XU HƯỚNG CÔNG NGHỆ MỚI TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Công nghệ thực tế ảo (VR), Thực tế ảo tăng cường (AR) là xu hướng mới thời đại thương mại điện tử, giúp các doanh nghiệp thu hút khách hàng, gia tăng doanh số.

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử là thị trường tiềm năng, với số lượng người dùng tăng đột biến. Cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ, thương mại điện tử ngày càng thay đổi, có những bước chuyển mình mạnh mẽ.

Công nghệ thực tế ảo (VR) và Thực tế ảo tăng cường (AR) là xu hướng mới trong thời đại thương mại điện tử, giúp các doanh nghiệp thu hút khách hàng và gia tăng doanh số.

AR giúp tăng trải nghiệm mua sắm của người dùng trong lĩnh vực thời trang.

Xã hội ngày càng phát triển, với những yêu cầu cao hơn, những công nghệ dẫn đầu xu hướng nhanh chóng làm thương mại điện tử có những dấu ấn, niềm tin trong lòng khách hàng.

Mặc dù hình thức mua sắm trên mạng internet trở nên phổ biến, nhưng trong nhiều trường hợp, khách hàng muốn trực tiếp thử sản phẩm. VR và AR đã và đang được khai thác mạnh mẽ.

Chính nhờ sự kết nối thế giới thật với không gian ảo, để tối ưu hóa trải nghiệm của khách hàng, VR và AR đã tạo nên sự thuận tiện trong mua sắm online, nhờ việc thử sản phẩm tại nhiều cửa hàng khác nhau. Bằng cách tận dụng công nghệ mới này, các thương hiệu có thể đem lại nhiều trải nghiệm cho mọi người trên khắp thế giới, ngay cả khi họ không thể ở đó.

VR là siêu phẩm công nghệ, mang theo cách thức mô phỏng những hình ảnh, âm thanh, những cảm nhận thực tế khác khiến khách hàng lạc vào một thế giới tưởng tượng hòn toàn chân thực, dễ dàng hơn khi đưa ra quyết định mua sắm.

Để hòa mình vào không gian VR, người dùng cần một thiết bị để hỗ trợ, phổ biến nhất là kính VR. Kính VR có khả năng tương tác với người dùng, điều khiển được không gian ảo hóa thông qua ngôn ngữ cơ thể.

Thực tế ảo tăng cường (AR) đang vượt lên như là một xu hướng công nghệ thực dụng mới đặc biệt. AR sử dụng một phần của thực tế, thêm vào đó những yếu tố hư cấu để tăng sự trải nghiệm cho khách hàng. AR được triển khai chủ yếu trên các thiết bị di động thông minh.

Đặc biệt, trong lĩnh vực thời trang, AR và VR được đặc biệt chú ý, đầu tư rất nhiều. Nhờ có VR và AR, việc mua sắm thời trang được dễ dàng hơn.

VR cho phép khách hàng có những trải nghiệm tương tự như khi đi đến một cửa hàng, nhưng lại diễn ra tại nhà một cách rất thoải mái.

Trong thiết kế nội thất, ứng dụng sử dụng công nghệ AR cho phép khách hàng chụp ảnh phòng của mình, đặt thử mẫu nội thất có kích thước và màu sắc khác nhau, để trải nghiệm thử trước thay vì phải khiêng đồ thật về, lắp và ướm thử.

AR là những ứng dụng làm chồng thành phần ảo lên môi trường thực tế người dùng. VR lại đưa họ đến với những trải nghiệm hoàn toàn chân thực nhờ những thiết bị hỗ trợ. VR và AR làm cải thiện khả năng nhận biết, thu hút khách hàng online đến với cửa hàng để lựa chọn, trải nghiệm sản phẩm.

Nguyễn Thu Vân – Nguyễn Đăng Hậu

Nguồn: https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/vr-va-ar-xu-huong-cong-nghe-moi-trong-thuong-mai-dien-tu-post216347.gd

PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ: QUÁ TRÌNH KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC

Đó là nhận định được Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng đưa ra tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2019.

Xu thế toàn cầu

Công nghệ số, chuyển đổi số, kinh tế số, kỷ nguyên số là một quá trình nhiều thập niên. Quá trình sáng tạo, sản xuất kinh doanh ngày càng diễn ra nhiều hơn trên không gian mạng. Với sự xuất hiện của cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0, thế giới đang ở điểm gẫy của quá trình chuyển đổi số. Đây là cơ cho Việt Nam thực hiện hóa khát vọng Việt Nam hùng cường.

Kinh tế số là các hoạt động kinh tế có sử dụng thông tin số, tri thức số như là yếu tố sản xuất chính; sử dụng mạng Internet, mạng thông tin làm không gian hoạt động; và sử dụng ICT, tức là viễn thông và CNTT, để tăng năng suất lao động, và để tối ưu nền kinh tế. Nếu nói đơn giản thì là nền kinh tế liên quan đến công nghệ số.

Theo nghĩa hẹp thì kinh tế số chỉ liên quan đến lĩnh vực ICT. Theo nghĩa rộng thì là những lĩnh vực gần gũi với công nghệ số, thí dụ như các nền tảng số. Theo nghĩa rộng nhất thì là tất cả các lĩnh vực mà có sử dụng công nghệ số.

Kinh tế số giúp tăng năng suất lao động, giúp tăng trưởng kinh tế. Kinh tế số cũng giúp tăng trưởng bền vững, tăng trưởng bao trùm, vì sử dụng tri thức nhiều hơn là tài nguyên. Chi phí tham gia kinh tế số thấp hơn nên tạo ra cơ hội cho nhiều người hơn. Công nghệ số là không biên giới nên sẽ làm giảm khoảng cách nông thôn và thành thị. Công nghệ số cũng cho chúng ta những cách tiếp cận mới, giải pháp mới để giải quyết hiệu quả những vấn đề tồn tại lâu dài của loài người, như: ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, đo lường tâm trạng xã hội, sự tham gia của người dân vào hoạch định chính sách…

Ở Việt Nam, kinh tế số xuất hiện từ khi có máy tính, đặc biệt là khi có máy tính cá nhân, vào cuối những năm 1980; bắt đầu mạnh mẽ là khi có Internet, vào cuối những năm 1990; phổ cập là khi mật độ điện thoại thông minh trên 50%, vào cuối những năm 2000; và được thúc đẩy mạnh mẽ là khi xuất hiện CMCN 4.0, vào cuối những năm 2010.

Số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách

Kinh tế số Việt Nam thời gian qua cơ bản là phát triển tự phát, nhưng phát triển khá nhanh. Cách nhanh nhất đẩy nhanh nền kinh tế số là sử dụng công nghệ số để thay đổi cách chúng ta đang sản xuất, đang làm việc. Đơn cử, dùng camera để giảm người bảo vệ, đó chính là kinh tế số. Tự động tưới cây khi đất khô, đó cũng chính là kinh tế số. Dùng văn bản điện tử thay giấy tờ cũng là số hóa nền kinh tế. Cuộc cách mạng toàn dân khởi nghiệp công nghệ số, phổ cập công nghệ số sẽ giúp Việt Nam số hóa nền kinh tế rất nhanh.

Công nghệ số sẽ sinh ra những mô hình kinh doanh mới, thách thức mới hoặc thay thế mô hình kinh doanh cũ.

Phát triển kinh tế số: Quá trình không thể đảo ngược
Kinh tế số giúp tăng năng suất lao động, giúp tăng trưởng kinh tế 

Nhiều người nói, số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Đầu tiên phải là chấp nhận các mô hình kinh doanh mới, chấp nhận các công nghệ mới làm thay đổi căn bản các ngành, gọi là X-tech. Những X-tech này (Fintech, EdTech, AgriTech…) thường là sự sáng tạo mang tính phá hủy cái cũ. Nếu chúng ta chấp nhận cái mới thì công nghệ mới của thế giới sẽ về, người tài trên toàn cầu sẽ về, và nền công nghiệp mới sẽ xuất hiện. Khi ấy, cái nôi Việt Nam sẽ tạo ra các sản phẩm công nghệ số xuất khẩu được.

5 yếu tố nền tảng hỗ trợ phát triển kinh tế số

Cách tiếp cận chính sách theo cách truyền thống thường là: Quản được thì mở, quản đến đâu thì mở đến đó, không quản được thì đóng. Cách tiếp cận mới mà nhiều nước áp dụng, gọi là cách tiếp cận Sandbox: Cái gì không biết quản như nào thì không quản, cho tự phát triển, nhưng trong một không gian nhất định, trong một thời gian nhất định, để các vấn đề được bộc lộ một cách rõ ràng, mà thường là không nhiều như lúc đầu các nhà quản lý dự đoán. Sau đó mới hình thành chính sách, hình thành qui định để quản lý. Đây là một trong những cách tiếp cận chính sách phù hợp với cuộc CMCN 4.0.

Những yếu tố mang tính nền tảng để hỗ trợ phát triển kinh tế số Việt Nam gồm:

Thứ nhất, hạ tầng viễn thông – CNTT – công nghệ số hiện đại, ngang tầm thế giới. Khi ấy băng thông rộng, tốc độ cao cộng với việc mỗi người dân có một điện thoại thông minh, sau đó là công nghệ 5G xuất hiện ở Việt Nam sẽ đưa nước ta cùng nhịp với các nước phát triển;

Thứ hai, các chính sách của Chính phủ liên quan tới kinh tế số, công nghệ số, Internet phải có tính cạnh tranh toàn cầu để người Việt Nam không phải ra nước ngoài khởi nghiệp công nghệ số mà còn đưa người nước ngoài, tài năng toàn cầu về Việt Nam phát triển công nghệ;

Thứ ba, Chính phủ chi tiêu nhiều cho sản phẩm công nghệ số, đi đầu về kinh tế số thông qua xây dựng Chính phủ điện tử, nhằm tạo ra thị trường ban đầu để phát triển doanh nghiệp công nghệ, toàn dân khởi nghiệp công nghệ số; Thứ tư là đào tạo nhân lực, song song với việc đưa đào tạo tiếng Anh và CNTT vào chương trình đào tạo bắt buộc.

Ba bước để chuyển đổi số

Để chuyển đổi số, Việt Nam có thể chọn chiến lược 3 bước: Bước một, đẩy nhanh việc số hóa các lĩnh vực, các ngành công nghiệp, đẩy nhanh chuyển đổi số Chính phủ, chuyển đổi số doanh nghiệp, chuyển đổi số trong xã hội, nhằm tăng hiệu quả hoạt động, tăng năng suất lao động và tạo ra các cơ hội tăng trưởng mới. Bước hai, sử dụng số hóa như một lợi thế cạnh tranh trong nước và toàn cầu. Bước ba, tiến tới nền kinh tế số toàn diện, mọi lĩnh vực được số hóa, hình thành các ngành công nghiệp số thế hệ mới, các ngành công nghiệp mới này sẽ là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Và cuối cùng, khi cuộc cách mạng số, CMCN 4.0 xảy ra thì tương lai không nằm trên đường kéo dài của quá khứ. Các nước như Việt Nam chúng ta có cơ hội bứt phá. Nhưng phải là một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự. Cả quản lý nhà nước, cả doanh nghiệp, đều cần một sự đột phá trong tư duy, trong chính sách, trong cách tiếp cận.

VietNamNet

CHUYỂN ĐỔI SỐ: CHÚ TRỌNG ĐẦU TƯ CÔNG HẠ TẦNG CÔNG NGHỆ

Chuyển đổi số được cho là một cơ hội có thể góp phần giúp Việt Nam nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia… Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi và số hóa nền kinh tế, đang đặt ra không ít thách thức, cần có những quyết sách kịp thời, phù hợp, trong đó cần chú trọng hơn tới đầu tư công vào hạ tầng công nghệ, viễn thông…

Chuyển đổi số trong nền kinh tế đã khẳng định thêm một lần nữa về vai trò, tính tất yếu và tầm quan trọng khi đại dịch Covid-19 đã làm đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu, dịch chuyển các dòng đầu tư do hạn chế đi lại và giao thương trực tiếp.

Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn dân số vàng, tỷ lệ dân trong độ tuổi lao động cao, lớp trẻ ngày càng năng động, có khả năng tiếp thu nhanh kiến thức và kỹ năng mới, bao gồm kiến thức và kỹ năng công nghệ số. Chỉ số về phát triển và chất lượng giáo dục tại Việt Nam, trong những năm gần đây luôn được đánh giá rất cao. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế cao trong vài thập niên lại đây đã góp phần quan trọng cải thiện thu nhập xã hội, tăng tiêu dùng, gia tăng đáng kể tầng lớp người trung lưu có thu nhập khá, thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao ngày càng được mở rộng.

Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam cũng đã và đang được cải thiện mạnh. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2020 đã xếp hạng Việt Nam đứng vị trí thứ 42, dẫn đầu trong số các quốc gia có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Tốc độ đổi mới công nghệ nhanh chóng, công nghệ truyền thông di động với mạng 4G đã phủ sóng hơn 95% hộ gia đình và đang phát triển mạng 5G. Phạm vi phủ sóng không dây rộng rãi, với số lượng người tiêu dùng sử dụng điện thoại di động cao đều có thể tiếp cận và khai thác được cơ hội từ nền kinh tế số. Đến nay, tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều ngành mũi nhọn có quan đến kinh tế số, kỹ thuật số như thương mại điện tử, fintech, kinh tế chia sẻ… Đó là những nền tảng rất có giá trị, tạo ra động lực cho quá trình tiếp cận và đẩy nhanh chuyển đổi số, phát triển nền kinh tế số, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng… thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Chuyển đổi số: Chú trọng đầu tư công hạ tầng công nghệ

Tuy nhiên, nghiên cứu, đánh giá về cơ hội chuyển đổi số của Việt Nam hiện nay, PGS.TS Tô Trung Thành – Trưởng phòng khoa học, Trường đại học Kinh tế quốc dân – nhận định: Quá trình tiếp cận chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số đang đặt ra không ít thách thức. Bởi chất lượng nguồn nhân lực, xét tổng thể vẫn còn yếu, hạn chế về kỹ năng ngoại ngữ, khả năng làm việc độc lập và khả năng làm việc nhóm chưa cao. Thực tế cho thấy, cổng thông tin điện tử quốc gia đã được Chính phủ thiết lập, đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính công theo hướng số hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, song bước xuất phát điểm phát triển kinh tế số của Việt Nam thì lại thấp. Điều này đã dẫn đến nhận thức, kiến thức về quản lý nhà nước, nhận thức và hành động từ phía doanh nghiệp cũng như người dân về kinh tế số vẫn còn chưa có tính thống nhất, chậm chạp, không đồng đều. Hành lang pháp lý, thể chế chính sách cho công cuộc chuyển đổi số vẫn còn nhiều bất cập…

Những vấn đề nêu trên đang trở thành rào cản rất lớn đối với quá trình chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số của Việt Nam. Xếp hạng của Cisco là một minh chứng đã cho thấy, mức độ sẵn sàng số hóa của Việt Nam còn thấp, mới chỉ đứng thứ 70/141 quốc gia được xếp hạng, so với khu vực còn thấp hơn Singapore, Malaysia, Thái Lan…

PGS.TS Tô Trung Thành cho rằng, Chính phủ cần có khung chiến lược để định hướng và tạo hành lang pháp lý, thể chế thuận lợi hơn cho việc chuyển đổi số. Mục tiêu hướng tới là chuyển đổi số và số hóa đồng bộ ở tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Muốn làm tốt được việc này, cần phải bắt đầu từ hoạt động quản trị Nhà nước.

Cần có một hạ tầng số và dịch vụ số bao quát mọi ngõ ngách của nền kinh tế và đến từng người dân. Muốn vậy, phải có nguồn lực đầu tư rất lớn và chất lượng nguồn nhân lực cao. Trong khi, chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì không thể giải quyết, mà phải có cơ chế, chính sách thích hợp động viên, huy động hiệu quả các nguồn lực từ xã hội, từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài (FDI), thông qua tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng và minh bạch.

Trong dài hạn, PGS.TS Tô Trung Thành cho rằng, công cuộc chuyển đổi số phải xuất phát từ sự đổi mới giáo dục – đào tạo, thay đổi cách thức quản lý giáo dục, phương pháp giảng dạy, giáo trình dạy và cả những môn học mới theo hướng gắn chặt với công nghệ và số hóa. Kỹ năng số cần được giới thiệu tới cấp mầm non và nâng dần mức độ tiếp cận cho các cấp độ học cao hơn.

Cần có các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng đủ sức hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư mạnh vào khoa học công nghệ, đổi mới, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, cải tiến kỹ thuật và công nghệ; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và đội ngũ doanh nhân. Đặc biệt, Chính phủ cần tạo dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật số đủ mạnh để các doanh nghiệp kết nối, nắm bắt xu thế và khai thác hiệu quả thế mạnh của kinh tế số, thông qua việc tăng cường đầu tư công vào phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, thanh toán điện tử, ngân hàng điện tử… giúp cho các doanh nghiệp cải thiện sự sẵn sàng bước vào kỷ nguyên công nghệ số hóa.

Ngọc Quỳnh

Nguồn: https://congthuong.vn/chuyen-doi-so-chu-trong-dau-tu-cong-ha-tang-cong-nghe-151193.html

THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT HÀNG HÓA TIẾN TỚI SẢN XUẤT THÔNG MINH

Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển nhận định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa tiến tới sản xuất thông minh làm thay đổi hoàn toàn ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa.

Ban Kinh tế Trung ương vừa cùng với Tập đoàn IEC và Tập đoàn Hewlett-Packard Enterprise (HPE) phối hợp tổ chức Hội nghị Bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh với chủ đề “Đón đầu làn sóng đầu tư và phát triển nhà máy thông minh trong bối cảnh bình thường mới”.

Hội nghị do ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương chủ trì và được triển khai trực tuyến tới 20 điểm cầu với sự tham dự của trên 50 đại biểu đại diện Văn phòng Chính phủ và các bộ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Khoa học và công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng và lãnh đạo 20 doanh nghiệp đầu ngành ở Việt Nam trên các lĩnh vực như dệt may, khoáng sản, năng lượng, ô tô, thực phẩm, điện tử, tiêu dùng, công nghệ,… Ông Hà Minh Hiệp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã tham gia điều phối phần trao đổi của Hội nghị.

Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương chủ trì Hội nghị.

Đây là Hội nghị khởi động trong chuỗi các hội nghị, tọa đàm, diễn đàn cấp cao do Ban Kinh tế Trung ương chủ trì để triển khai sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 về “Định hướng xây dựng chính sách công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và 2 năm triển khai Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Phát biểu khai mạc và đề dẫn Hội nghị, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển nhận định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa tiến tới sản xuất thông minh làm thay đổi hoàn toàn ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa.

Sản xuất thông minh với nền tảng dựa trên sự tích hợp máy móc thông minh và robot thế hệ mới, kết nối vạn vật công nghiệp IIoT và các phần mềm, hệ thống tích hợp đang trở thành một xu thế tất yếu. Nhân tố cốt lõi của sản xuất thông minh là nhà máy thông minh, là hệ thống sản xuất tự động hóa được kết nối và xử lý dữ liệu liên tục từ hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính tự học và thích nghi (nhà máy sản xuất đáp ứng, thích nghi và kết nối).

Ông Hà Minh Hiệp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phát biểu tại Hội nghị.

Sản xuất thông minh với nhân tố cốt lõi nhà máy thông minh đang trở thành động lực phát triển mới của thế giới, các quốc gia đang đẩy nhanh phát triển sản xuất thông minh. Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển cũng đã phân tích, làm rõ các chủ trương của Đảng về phát triển sản xuất thông minh, trong đó có nhà máy thông minh nêu tại Nghị quyết 23 và Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á, ông Nguyễn Đức Hiển đề nghị các chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp tập trung trao đổi 4 nhóm vấn đề trọng tâm: (1) Nhận diện tiềm năng, cơ hội đầu tư phát triển sản xuất thông minh (nhà máy thông minh, nhà máy số, ứng dụng công nghệ thông minh vào sản xuất kinh doanh), nhất là lĩnh vực sản xuất chế tạo tại Việt Nam; (2) Nhận diện khó khăn, thách thức đối với doanh nghiệp ngành sản xuất trong quá trình chuyển đổi số tiến tới sản xuất thông minh (quy trình sản xuất, xây dựng nhà máy thông minh, nhân lực, công nghệ…) và vấn đề quản trị rủi ro khi hầu hết các khâu của quá trình sản xuất đều được tự động hóa…; (3) Trao đổi các mô hình, kinh nghiệm điển hình về triển khai sản xuất thông minh, nhà máy thông minh; (4) Các vấn đề về thể chế, chính sách cũng cần được tháo gỡ để để thúc đẩy sản xuất thông minh, nhà máy thông minh tại Việt Nam.

Quang cảnh Hội nghị.       

Tại Hội nghị, ông Tariq Shallwani, Giám đốc Kinh doanh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của HPE đã có báo cáo chính trao đổi về kinh nghiệm quốc tế trong chuyển đổi số ngành sản xuất. Sau đó, đã có 15 đại biểu đại diện các bộ, ngành Trung ương và doanh nghiệp tham gia trao đổi xung quanh 4 nhóm vấn đề được Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển gợi ý.

Kết luận Hội nghị, ông Nguyễn Đức Hiển đã giao Vụ Công nghiệp, Ban Kinh tế Trung ương tổng hợp, chắt lọc các ý kiến tại Hội nghị để phục vụ xây dựng đề cương, kế hoạch và triển khai xây dựng báo cáo sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23 và Nghị quyết 52.

Bảo Lâm

Nguồn: http://vietq.vn/thuc-day-qua-trinh-san-xuat-hang-hoa-tien-toi-san-xuat-thong-minh-d183319.html

4 LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Danh mục công nghệ ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cụ thể, Danh mục công nghệ ưu tiên của từng lĩnh vực như sau:Theo đó, 4 lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 gồm: 1- Công nghệ số; 2- Vật lý; 3- Công nghệ sinh học; 4- Năng lượng và môi trường.

Lĩnh vực công nghệ số: Trí tuệ nhân tạo; internet vạn vật; công nghệ phân tích dữ liệu lớn; công nghệ chuỗi khối; điện toán đám mây, điện toán lưới, điện toán biên; điện toán lượng tử; công nghệ mạng thế hệ sau; thực tại ảo, thực tại tăng cường, thực tại trộn; công nghệ an ninh mạng thông minh, tự khắc phục và thích ứng; bản sao số; công nghệ mô phỏng nhà máy sản xuất; nông nghiệp chính xác.

Lĩnh vực vật lý: Robot tự hành, robot cộng tác, phương tiện bay không người lái, phương tiện tự hành dưới nước; in 3D tiên tiến; công nghệ chế tạo vật liệu nano, thiết bị nano; công nghệ chế tạo vật liệu chức năng; công nghệ thiết kế, chế tạo vệ tinh nhỏ và siêu nhỏ; công nghệ ánh sáng và quang tử.Lĩnh vực công nghệ sinh học: Sinh học tổng hợp; công nghệ thần kinh; tế bào gốc; công nghệ Enzyme; tin sinh học; chip sinh học và cảm biến sinh học; y học tái tạo và kỹ thuật tạo mô; công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới.

Lĩnh vực năng lượng và môi trường: Công nghệ chế tạo pin nhiên liệu; công nghệ tổng hợp nhiên liệu sinh học tiên tiến; năng lượng Hydrogen; quang điện; công nghệ lưu trữ năng lượng tiên tiến; công nghệ tiên tiến trong thăm dò, thu hồi dầu và khí; thu thập và lưu trữ các bon; năng lượng vi mô; công nghệ tua bin gió tiên tiến; công nghệ năng lượng địa nhiệt, năng lượng đại dương và năng lượng sóng; lưới diện thông minh.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức liên quan căn cứ Quyết định này và các quy định khác của pháp luật liên quan để định hướng, ưu tiên bố trí nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.

Chí Kiên

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/4-linh-vuc-Cong-nghe-uu-tien-nghien-cuu-phat-trien/417384.vgp

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGÀNH SẢN XUẤT: NHỮNG THÁCH THỨC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã “giáng đòn chí tử” vào nền kinh tế, đẩy lùi đà phát triển của đa số ngành công nghiệp. Cú sốc này đã làm biến mất hàng triệu doanh nghiệp trên toàn thế giới. Nhưng ở một khía cạnh tích cực khác, sự khốc liệt này lại thay đổi việc vận hành kinh tế cũng như dịch chuyển đầu tư giữa các quốc gia.

Các tập đoàn lớn trên thế giới đưa ra kế hoạch dịch chuyển đầu tư sản xuất từ các quốc gia có nguy cơ dịch bệnh cao sang các nước có môi trường đầu tư an toàn hơn. Việt Nam hiện đang là điểm đến sáng giá trong các bản kế hoạch như vậy. Nhưng làm thế nào để thắng được trên trường quốc tế? Đó không chỉ là bài toán của môi trường đầu tư an toàn mà còn là vấn đề nội lực doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030″ với tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. Điều này đánh thức các doanh nghiệp trong các lĩnh vực từ tài chính ngân hàng, đến y tế, giáo dục và tất nhiên không thể thiếu các doanh nghiệp sản xuất – nền tảng của mọi nền công nghiệp.

Tuy nhiên, một thực tế dễ thấy, dù đồng lòng với mục tiêu xây dựng doanh nghiệp số Việt Nam đủ năng lực đi ra toàn cầu, không ít doanh nghiệp sản xuất không biết bắt đầu từ đâu.

Có thể thấy những thách thức mà các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang phải đối mặt, khi mà công nghệ đang thay đổi mỗi ngày, và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trước tiên, phải kể đến bài toán chi phí. Khi quyết định chuyển đổi số, doanh nghiệp chấp nhận thay đổi quy trình, hệ thống, và cả con người. Điều này đòi hỏi một ngân sách đủ lớn để làm đồng bộ, toàn diện, không chắp vá. Khi chưa nhìn thấy một kết quả rõ ràng, việc đầu tư một ngân sách lớn cho hệ thống khiến chủ doanh nghiệp không khỏi lo lắng.

Tiếp theo là những thách thức về thay đổi tư duy ngay trong doanh nghiệp. Chuyển đổi số không phải là câu chuyện riêng của công nghệ mà là bài toán khó của chính con người, những người làm chủ và vận hành doanh nghiệp. Cho dù sở hữu một hệ thống tiên tiến, hiện đại, nhưng tư duy lối mòn lại trở thành rào cản khiến công nghệ không được khai thác và ứng dụng hiệu quả. Bởi vậy, không ngừng học hỏi là không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn vượt qua rào cản về tư duy.

Cuối cùng, lựa chọn công nghệ phù hợp với doanh nghiệp của mình chính là thách thức lớn thứ ba mà doanh nghiệp phải đối mặt. Những câu chuyện về công nghệ mới cho ngành sản xuất như AI, machine learning, IoT hay Cloud đang tràn ngập trên mặt báo. Nhưng chính giải pháp chuyên sâu, cải tiến liên tục và sự lựa chọn từ quá nhiều nhà cung cấp lại khiến chủ doanh nghiệp phải băn khoăn. Làm thế nào để có giải pháp phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình?

Có thể nói, đây chính là những rào cản lớn nhất khiến các nhà máy sản xuất tại Việt Nam loay hoay tìm cách cải tiến và chuyển đổi.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 1.

Trong hội nghị bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh ngày 28.01, chuyên gia của Hewlett Packard Enterprise đã chia sẻ với các cơ quan bộ ban ngành và lãnh đạo cấp cao tới từ các tập đoàn lớn: “Trước khi vội vàng tìm cách đi trước, dẫn đầu, doanh nghiệp cần phải giải quyết những vấn đề đang tồn tại, từ đó xây dựng giải pháp tối ưu căn cứ vào đặc thù riêng của mình”.

Cụ thể, doanh nghiệp cần có chiến lược chuyển đổi rõ ràng. Điều này có nghĩa là gì? Hãy vạch ra kế hoạch chi tiết cho hành trình chuyển đổi số trong nhà máy sản xuất của mình. Nó sẽ diễn ra trong bao lâu, qua những giai đoạn nào và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp là gì? Hãy lượng hóa mọi tiêu chí, để có một thước đo rõ ràng nhất, thay vì chìm đắm trong viễn cảnh mơ hồ.

Khi đã vẽ được bức tranh tổng thể về hành trình mình sẽ đi, hãy vạch ra phương án tiếp cận theo từng giai đoạn. Căn cứ vào đặc điểm đặc thù của chính doanh nghiệp mình để chia nhỏ các giai đoạn chuyển đổi cho phù hợp. Việc này giúp nhân lực trong nhà máy dễ dàng nhận biết và thích nghi hơn, doanh nghiệp không phải chịu áp lực quá lớn về chi phí ngay từ đầu.

Thu nạp nhân tài trong lĩnh vực CNTT là một yếu tố quan trọng quyết định thành công chuyển đổi số. Bởi lẽ rõ ràng, một hệ thống hiện đại đòi hỏi vận hành bởi những bộ óc đủ thông minh. Một hệ thống sản xuất tự động hóa đòi hỏi một hạ tầng IT đủ mạnh mẽ.

Những công nghệ tiên tiến nhất trong ngành sản xuất, sẽ giúp doanh nghiệp tăng tốc trong hành trình chuyển đổi, tạo năng lực cạnh tranh vượt trội. Ngày nay, data là nguồn sống của doanh nghiệp, vì vậy hãy tận dụng và khai thác tối đa. Thay thế việc bảo trì hệ thống thủ công, theo thời gian định trước bằng việc cập nhật và sửa lỗi tự động, xác định vấn đề trước khi nó xảy ra với công nghệ IoT và deep machine learning.

Chuyển đổi số không phải câu chuyện của riêng quốc gia, ngành nghề hay doanh nghiệp nào. Bản thân HPE trong những năm vừa qua cũng đang không ngừng cải tiến, phát triển, và thử nghiệm để sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI và IoT. Khi đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất như Daido, Seagate hay Leica,…HPE đã xây dựng những giải pháp IT riêng để giải quyết những vấn đề đặc thù mà từng doanh nghiệp đang gặp phải.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 2.

Seagate kết hợp CNTT và OT với hệ thống HPE Apollo, hệ thống hội tụ Edgeline và dịch vụ AI từ HPE Pointnext Services để thúc đẩy việc ra quyết định và đem lại hiệu quả tốt nhất cho chất lượng sản phẩm và hiệu quả quy trình. Trong khi đó, Leica lại cần đến hệ thống máy chủ HPE Moonshot, Moonshot Cartridges và ứng dụng ảo hóa Citrix để quản trị cơ sở hạ tầng tập trung và đơn giản trong trung tâm dữ liệu giúp giảm chi phí một cách lâu bền.

Như vậy, căn cứ vào vấn đề và mục tiêu của từng doanh nghiệp, sẽ có những giải pháp phù hợp khác nhau trên hành trình chuyển đổi số. Mọi vấn đề đều có lời giải đáp, chỉ cần hỏi đúng người. Vượt qua thách thức chính là lúc để lại đối thủ của mình ở phía sau. Bắt đầu hành trình chuyển đổi số ngay hôm nay!

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất của HPE tại Website: manufacturingdx.com

Ánh Dương (theo Nhịp sống kinh tế)

Nguồn: https://cafef.vn/chuyen-doi-so-trong-nganh-san-xuat-nhung-thach-thuc-cho-doanh-nghiep-viet-nam-2021013018420568.chn

CÔNG NGHỆ ĐÁM MÂY VÀ QUẢN TRỊ DỮ LIỆU ĐEM LẠI SỰ THÀNH CÔNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ

Ở cấp độ doanh nghiệp, tổ chức hay đến cấp độ Quốc gia nếu nhận thức đúng về tầm quan trọng của công nghệ đám mây và quản trị dữ liệu sẽ là mấu chốt cho sự thành công của chuyển đổi số.

Công nghệ đám mây và quản trị dữ liệu đem lại sự thành công của chuyển đổi số
Công nghệ đám mây và quản trị dữ liệu đem lại sự thành công của chuyển đổi số

Chuyển đổi số, ứng dụng các công nghệ số đã trở thành xu thế với các doanh nghiệp và chính phủ trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam trong vòng năm năm trở lại đây. Xu thế này càng trở nên mạnh mẽ hơn khi thế giới phải chống chọi với đại dịch Covid, khi các hoạt động kinh doanh lẫn vận hành nội bộ của doanh nghiệp phải dịch chuyển lên môi trường trực tuyến nhiều hơn. Tại Việt Nam, khảo sát mới nhất của Ngân hàng Thế giới công bố tháng 11/2020 cũng cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng hoặc tăng cường sử dụng công nghệ số để thích ứng với môi trường kinh doanh mới đã tăng từ 50% lên 60% trong nhóm doanh nghiệp được khảo sát; trong đó nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ đang bắt kịp với doanh nghiệp lớn trong đầu tư vào các giải pháp công nghệ số. Trong tiến trình đó, một yếu tố cốt lõi khi chuyển đổi số, ‘số hoá’ các quy trình hoạt động và ứng dụng các giải pháp công nghệ số – đó là quản trị các giải pháp số và dữ liệu số trên nền tảng điện toán đám mây. Hiểu và lựa chọn đúng các dịch vụ điện toán đám mây khi đầu tư công nghệ sẽ giúp các chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp,  tối ưu hoá được chi phí và tăng hiệu quả dài hạn khi bắt tay ‘số hoá’ các hoạt động của tổ chức mình.

Hiểu đúng về Điện toán đám mây và lợi ích của công nghệ mới

Một nhận thức thiếu sót thông thường ở Việt Nam là điện toán đám mây chỉ phục vụ cho lưu trữ dữ liệu. Thực tế lợi ích của công nghệ này vượt xa hơn thế bởi nó thay đổi hoàn toàn cách mà các tổ chức có thể xây dựng doanh nghiệp. Điện toán đám mây không chỉ là về công nghệ hoặc về cách các tổ chức tiếp cận công nghệ mà quan trọng hơn, công nghệ đó tạo ra tác động toàn diện về việc chuyển đổi doanh nghiệp. Điện toán đám mây phân phối các tài nguyên CNTT theo nhu cầu qua Internet với chính sách thanh toán theo mức sử dụng. Thay vì mua, sở hữu và bảo trì các trung tâm dữ liệu và máy chủ vật lý, doanh nghiệp có thể tiếp cận các dịch vụ công nghệ, như năng lượng điện toán, lưu trữ và cơ sở dữ liệu, khi cần thiết. Nó tương tự như cách người tiêu dùng bật công tắc điện trong nhà và công ty điện lực truyền tải điện. Với điện toán đám mây, các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô (HCSP) quản lý và duy trì cơ sở hạ tầng công nghệ trong một môi trường an toàn và các doanh nghiệp truy cập các tài nguyên này qua Internet để phát triển và chạy các ứng dụng của họ. Điện toán đám mây có thể phát triển hoặc thu hẹp ngay lập tức và doanh nghiệp chỉ trả tiền cho những gì họ sử dụng. Như thế lợi ích kinh tế của dịch vụ này là rất đáng kể.

4 ưu điểm của việc di chuyển lên đám mây siêu quy mô

Các dịch vụ đám mây quy mô lớn, vận hành toàn cầu ( như dịch vụ của Amazon Webservice, Google, Microsoft …) còn được gọi là Đám mây siêu quy mô (hyperscale cloud) cho thấy 4 ưu điểm chính:

Thứ nhất, tăng tốc độ và sự linh hoạt: Trong môi trường điện toán đám mây, khách hàng cung cấp cho nhà phát triển các tài nguyên CNTT chỉ bằng một cú nhấp chuột, do đó giảm thời gian cung cấp từ vài tuần xuống còn vài phút. Điều này gia tăng đáng kể sự linh hoạt của tổ chức vì chi phí và thời gian để thử nghiệm và phát triển thấp hơn rõ rệt.

Thứ hai, chi phí thấp nhờ ngừng chi tiền để vận hành và duy trì trung tâm dữ liệu: Với Điện toán đám mây, các doanh nghiệp không còn cần phải sở hữu trung tâm dữ liệu hoặc lập kế hoạch và mua sắm máy chủ hay cơ sở hạ tầng CNTT đắt đỏ như trước đây. Một ví dụ nhỏ, nếu không dùng ‘đám mây’, một doanh nghiệp nhỏ với chỉ 10 máy tính cũng cần có một máy chủ (serve) và riêng máy chủ này có chi phí gấp vài lần máy tính bình thường. Nay thì thay vì mua, sở hữu và duy trì cơ sở hạ tầng công nghệ tốn kém, các tổ chức có thể sử dụng nhà cung cấp dịch vụ đám mây để xây dựng ứng dụng bằng cách sử dụng các khối tài nguyên “building block” (tức là tài nguyên CNTT) được cung cấp trên cơ sở cần thiết. Ví dụ, các phần mềm dù là phục vụ văn phòng như Word, Excel, hay phần mềm quản trị nhân sự, kế toán – đều có thể mua theo gói người sử dụng ( account) thay vì mua toàn bộ bản quyền phần mềm và cài đặt riêng lên từng máy tính như trước đây.

Thứ ba, mở rộng ra toàn cầu trong vài phút: Công nghệ này cho phép doanh nghiệp Dễ dàng triển khai ứng dụng ở nhiều khu vực trên thế giới chỉ với vài cú nhấp chuột. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể cung cấp độ trễ thấp hơn và trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng của họ với chi phí tối thiểu. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây (CSP) sở hữu và duy trì phần cứng được kết nối mạng cần thiết để các khối này hoạt động theo cách chúng được yêu cầu, trong khi doanh nghiệp cung cấp các loại tài nguyên CNTT khác nhau và xây dựng những gì họ cần bằng nền tảng dịch vụ đám mây. CSP cung cấp một loạt các dịch vụ cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như công suất, các tùy chọn lưu trữ, mạng và cơ sở dữ liệu. Điều này cho phép các doanh nghiệp, công ty start-up, doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng trong khu vực công tiếp cận các khối tài nguyên mà họ cần để đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu kinh doanh.

Thứ tư, an ninh mạng quản trị dữ liệu tốt hơn: Khi nỗi sợ bị tấn công mạng và mất dữ liệu, mất bí mật kinh doanh là nỗi lo hàng đầu của mọi doanh nghiệp khi chuyển đổi số, ‘dịch vụ điện toán đám mây’ đang là câu trả lời tối ưu nhất hiện nay. Khả năng sao lưu dữ liệu và phục hồi dữ liệu là ưu điểm đáng kể khi so sánh với lưu trữ dữ liệu theo phương cách truyền thống. Điều này có được nhờ công nghệ bảo mật đối với trung tâm dữ liệu vật lý, tách mạng, khả năng phục hồi phần cứng máy chủ và kho lưu trữ.

Dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô rất đáng tin cậy và là một trong những lý do chính khiến doanh nghiệp của họ phát triển nhanh như hiện tại. Các doanh nghiệp này xây dựng trung tâm dữ liệu của họ ở nhiều nơi khác nhau cũng như trên nhiều Vùng khả dụng để cung cấp khả năng phục hồi tối đa chống lại sự gián đoạn hệ thống. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô thiết kế các trung tâm dữ liệu của mình với các kết nối băng thông dư thừa đáng kể để nếu xảy ra gián đoạn lớn thì vẫn có đủ dung lượng để cho phép cân bằng lưu lượng đến các trang còn lại, giảm thiểu tác động đến khách hàng.

Ưu điểm thứ hai là giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng quản trị và bảo vệ dữ liệu của mình. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô áp dụng Mô hình trách nhiệm chung, theo đó khách hàng duy trì quyền sở hữu và kiểm soát dữ liệu của họ trên các yếu tố chính như: dữ liệu nào họ chọn để lưu trữ hoặc xử lý bằng các dịch vụ đám mây siêu quy mô, bao gồm nội dung đó có bao gồm dữ liệu cá nhân hoặc thông tin nhận dạng cá nhân hay không; Dịch vụ đám mây nào họ sử dụng với nội dung của họ;  Khu vực địa lý nơi lưu trữ nội dung của họ; Định dạng, cấu trúc và bảo mật của nội dung của họ, bao gồm việc nội dung đó được che giấu, ẩn danh hoặc mã hóa; Ai có quyền truy cập vào tài khoản và nội dung của họ và cách các quyền truy cập đó được cấp, quản lý và thu hồi

Bởi vì khách hàng giữ quyền sở hữu và kiểm soát nội dung của họ trong môi trường đám mây siêu quy mô, họ cũng có trách nhiệm liên quan đến bảo mật của nội dung đó như một phần của mô hình “trách nhiệm chung”. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô áp dụng mô hình trách nhiệm chung này không có quyền kiểm soát các quyết định này và không có quyền đưa ra các quyết định đó thay mặt Khách hàng.

Chuyển đổi số và ứng dụng đám mây trong chương trình chuyển đổi số Quốc gia:

Với những lợi ích toàn diện như vậy, Công nghệ ‘ đám mây’ được đánh giá là lựa chọn tối ưu cho doanh nghiệp khi tiến hành chuyển đổi số. Theo một nghiên cứu của Trường Kinh doanh Harvard, các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô giúp các doanh nghiệp trẻ và các công ty khởi nghiệp cắt giảm 15-27% chi phí khi mới bắt đầu kinh doanh, khuyến khích đổi mới và thu hút nhiều tài trợ hơn từ các nhà đầu tư mạo hiểm. Nghiên cứu khẳng định “sự ra đời của các dịch vụ điện toán đám mây được coi là một thời điểm quyết định giúp cắt giảm đáng kể chi phí ban đầu để bắt đầu các công ty khởi nghiệp dựa trên internet và web.”

Ở bình diện quốc gia, sự đóng góp của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô vào sự tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ là đặc biệt quan trọng vì các doanh nghiệp quy mô nhỏ nhất chiếm khoảng 50% tổng số việc làm mới, chẳng hạn như các công ty khởi nghiệp.

Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô cũng giúp các công ty lớn cắt giảm chi phí. Phần lớn các công ty trong danh sách Fortune 500 và hơn 90% trong số 100 công ty trong danh sách Fortune 100 sử dụng các giải pháp và dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây siêu quy mô.

Với tầm quan trọng như vậy, công nghệ đám mây và quản trị dữ liệu được coi là một trong những trụ cột ưu tiên trong chương trình chuyển đổi số Quốc gia của Việt Nam. Ở cấp độ mỗi doanh nghiệp hay mỗi tổ chức; đến cấp độ Quốc gia, nhận thức đúng về tầm quan trọng, từ đó có chiến lược sử dụng tối ưu công nghệ này là mấu chốt cho sự thành công của chuyển đổi số ở Việt Nam.

Trần Đăng Quang

Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/chuyen-doi-so/cong-nghe-dam-may-va-quan-tri-du-lieu-dem-lai-su-thanh-cong-cua-chuyen-doi-so-273903.html

ĐẢM BẢO AN TOÀN THÔNG TIN CHO ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY LÀ ĐỊNH HƯỚNG CHỦ LỰC CỦA QUỐC GIA

Bộ TT&TT đã xác định, nền tảng điện toán đám mây là hạ tầng viễn thông thế hệ mới trong vòng 5 – 10 năm tới và sẽ là định hướng chủ lực của quốc gia cần tập trung phát triển trong thời gian tới.

Đảm bảo an toàn thông tin cho điện toán đám mây là định hướng chủ lực của quốc gia
Đảm bảo an toàn thông tin cho điện toán đám mây là đảm bảo cho hạ tầng số

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Phó cục trưởng Cục An toàn thông tin (ATTT), Bộ TT&TT cho biết, Bộ TT&TT đã xác định, nền tảng điện toán đám mây là hạ tầng viễn thông thế hệ mới trong vòng 5 – 10 năm tới. Đồng thời, Bộ TT&TT cũng xác định nền tảng điện toán đám mây là hạ tầng số cho phát Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. “Đây là một trong những định hướng chủ lực của quốc gia cần tập trung phát triển trong thời gian tới”, ông Lịch nhấn mạnh.

Theo dự báo, đến năm 2025 thị trường điện toán đám mây tại Việt Nam sẽ đạt 500 triệu USD và tốc độ tăng trưởng khoảng 30 – 40%. Đặc biệt, trong năm 2020 này, dịch Covid-19 đã tạo “cú hích” thúc đẩy phát triển thị trường điện toán đám mây, nhờ đó tốc độ tăng trưởng của thị trường đạt tới 40%.

Như vậy, về mặt thị trường thì điện toán đám mây là một “miếng bánh” tương đối lớn cho các doanh nghiệp. Còn ở góc độ quốc gia, với tầm quan trọng của hạ tầng viễn thông thế hệ mới, hạ tầng số, đồng thời thực hiện chủ trương Make in Vietnam, các doanh nghiệp trong nước phải phát triển, làm chủ nền tảng hạ tầng này.

Ông Lịch nhấn mạnh, để phát triển các nền tảng điện toán đám mây Việt Nam theo đúng định hướng và bài bản, Việt Nam cũng là một trong số ít quốc gia đã ban hành bộ tiêu chí, chỉ tiêu kỹ thuật để đánh giá và lựa chọn giải pháp nền tảng điện toán đám mây phục vụ Chính phủ điện tử/chính quyền điện tử.

Bộ tiêu chí, chỉ tiêu kỹ thuật để đánh giá và lựa chọn giải pháp nền tảng điện toán đám mây này gồm tổng cộng 153 tiêu chí. Trong đó có 84 tiêu chí, chỉ tiêu kỹ thuật về tính năng mà nền tảng điện toán đám mây cần đáp ứng; 69 chỉ tiêu, tiêu chí về an toàn, an ninh thông tin. “Một nền tảng điện toán đám mây đạt 153 tiêu chí, chỉ tiêu kỹ thuật này thì đó thực sự là một nền tảng cung cấp dịch vụ hiện đại và an toàn”.

Sau khi Bộ TT&TT ban hành bộ tiêu chí, chỉ tiêu kỹ thuật về giải pháp nền tảng điện toán đám mây, thực hiện nhiệm vụ được giao, Cục ATTT, Bộ TT&TT đang triển khai đánh giá và sắp tới sẽ có một số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn.

Ông Lê Hoài Nam – Phó Giám đốc Viettel IDC cho biết: với dịch vụ điện toán đám mây, thị trường phát triển khá nhanh trong những năm gần đây. Riêng Viettel, tốc độ phát triển gấp đôi bình thường từ 60 đến 80%. Thị trường đầy tiềm năng trong khi doanh nghiệp Việt Nam mới chiếm dưới 20% con số mà người dùng đang chi trả. Như vậy, chúng ta còn khoảng khai thác rộng về thị trường.

Tuy nhiên, ông Lê Hoài Nam cho rằng, câu chuyện bảo mật ATTT cho điện toán đám mây không phải chỉ của riêng Việt Nam mà trên thế giới cũng rất quan tâm. Lĩnh vực này tại Việt Nam còn mới nên mọi người lo lắng nhiều nhưng không phải không có cơ sở. Trong 2 năm trở lại đây, phỏng vấn khách hàng Viettel IDC về chuyển đổi ứng dụng lên cloud thấy họ dần quen với môi trường mới; đội ngũ chuyên gia đã thay đổi cách nhìn nhận, ý niệm về công nghệ mới và giảm thiểu lo lắng.

Thực tế đặt ra nhiều bài toán cần giải quyết. ATTT trên đám mây là nút thắt cần giải quyết nhưng hiện nay đã có lớp khách hàng đi trước là case study để khách hàng đi sau học tập và cảm nhận, mạnh dạn đưa ứng dụng lên đám mây. Đánh giá sự bền vững, dịch vụ vẫn có lúc “chết” ở Mỹ. Nếu data center chỉ có 1 thì sẽ rủi ro nhưng nếu có 2 thì có khả năng backup, 70 đến 80% dịch vụ có thể khôi phục ngay. Ngoài ra, còn tùy thuộc nhà cung cấp đầu tư cho data center thuộc cấp độ mấy. Ví dụ, Viettel IDC có hai data center ở Hà Nội và Bình Dương đạt cấp độ ba, 99,98% available… Viettel vận hành hầu như chưa thất bại. Tuy nhiên, ngoài đầu tư về tiền còn cần hệ thống đội ngũ kỹ thuật vì công nghệ luôn thay đổi và mọi chứng chỉ khách hàng yêu cầu liên tục phải cập nhật. Với các nhà cung cấp dịch vụ lớn như VNPT và Viettel, độ bền vững của hạ tầng cung cấp dịch vụ sẽ được đảm bảo.

Ông Bùi Hoàng Anh. Giám đốc Kinh doanh CMC Cloud cho rằng, khách hàng cũng băn khoăn về tính bảo mật của CMC. Có nhiều yếu tố cấu thành như data center, đội ngũ kỹ thuật xử lý sự cố. Ví dụ, trong một bộ phận kinh doanh của CMC Cloud, tỉ lệ sự cố gần như không có và tỉ lệ khách hàng hài lòng 99%, hơn 200 success story vận hành trơn tru.

Còn theo ông Tống Mạnh Cường Giám đốc sản phẩm, Công ty VNPT IT, có 2 vấn đề, đó là người dùng có trả tiền để sử dụng dịch vụ thực sự an toàn không và yếu tố lòng tin. Việt Nam là một hạt nhân của thế giới, chính phủ Mỹ dùng dịch vụ đám mây của Mỹ, là cuộc đấu giữa Microsoft và AWS. Chính phủ Mỹ cũng dùng thì không có lý do gì chúng ta không dùng.

Các doanh nghiệp cho rằng, để kích cầu dịch vụ điện toán đám mây, Chính phủ nên có hoạt động thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số thực sự. Đó là cái cầu để đơn vị cung cấp dịch vụ vào. Ví dụ, nếu Chính phủ thực hiện công tác cung cấp Cổng dịch công quốc gia, sẽ có đơn vị cung ứng. Cloud có các hình thức: hạ tầng để cõng ứng dụng, dữ liệu… Chính phủ cũng phải xây dựng hạ tầng đám mây của Chính phủ để đưa tất cả dịch vụ lên. Đó  là cơ hội của các doanh nghiệp, khi có người dùng, khi có cầu thì cung mới lên được. Cầu chưa có thì cung phải loay hoay. Chính phủ, các bộ ban ngành cần thúc đẩy cho các doanh nghiệp, đặc biệt là khối đơn vị hành chính sự nghiệp công. Ví dụ, các Sở TT&TT là những đơn vị đi đầu chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin triển khai đám mây công cộng. Như thế, doanh nghiệp mới có đất để diễn.

P.V

Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/bao-mat/dam-bao-an-toan-cho-dien-toan-dam-may-la-dam-bao-cho-ha-tang-so-275276.html

Đăng ký nhận thông tin