TP HCM ƯU TIÊN DỰ ÁN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO

Thành phố ưu tiên các dự án ứng dụng khoa học công nghệ và đánh giá lại những ngành công nghiệp có ảnh hưởng môi trường, thâm dụng lao động.

Tham dự duyệt kế hoạch năm 2021 tại Sở Khoa học và Công nghệ sáng 16/3, Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thành Phong yêu cầu sở phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát lại các dự án đầu tư tại thành phố sắp hết hiệu lực. Ban quản lý Khu công nghiệp Khu chế xuất, Ban quản lý Khu công nghệ cao cùng tham gia đánh giá mức độ ứng dụng khoa học công nghệ, tỷ lệ thâm dụng lao động ở các doanh nghiệp hiện nay.

Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thành Phong phát biểu tại hội nghị duyệt kế hoạch năm 2021 sáng 16/3. Ảnh: Hà An.
Theo đánh giá của ông Phong, thực tế tại Khu công nghệ cao đã thu hút được các doanh nghiệp lớn như Samsung, Intel… tuy nhiên lực lượng lao động phổ thông vẫn ở mức cao, khoảng 60%. Ông cho rằng, thành phố chủ trương mời gọi doanh nghiệp đầu tư là nhu cầu thực tế. Tuy nhiên không phải tất cả doanh nghiệp mà cần chọn lọc lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, gắn với cơ cấu phát triển thành phố.
Người đứng đầu chính quyền TP HCM dẫn chứng hiện có hơn 110 quốc gia đầu tư vào thành phố, trong đó Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… có nhiều dự án. Điển hình như Hàn Quốc có hơn 2.000 dự án, quốc gia ít thì có 2 đến 3 dự án. Hơn 15 năm trước, nhu cầu đầu tư của thành phố rất lớn, doanh nghiệp nào có nhu cầu, lập tức được mời vào các khu công nghiệp, khu chế xuất. Nhưng hiện tại, đã đến lúc thành phố cần cân nhắc lại với những lĩnh vực đầu tư ảnh hưởng đến môi trường, thâm dụng lao động.
“Tôi yêu cầu các sở ngành cần tính toán lại trong mời gọi đầu tư, ưu tiên hơn cho các dự án ứng dụng khoa học công nghệ”, ông Phong nêu quan điểm và cho rằng khoa học công nghệ cần “thấm sâu” vào quản lý, đời sống kinh tế xã hội của thành phố.
Báo cáo với lãnh đạo thành phố, ông Nguyễn Việt Dũng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM cho biết, ngành đặt mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của khoa học công nghệ thông qua chỉ số TFP trên 42% vào GRDP. Đầu tư từ ngân sách thành phố năm 2021 khoa học công nghệ đạt 2% tổng chi ngân sách.
Trong nhiệm vụ tái cấu trúc các chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, Sở Khoa học và Công nghệ đặt mục tiêu ưu tiên cho 6 chương trình nằm nâng cao tiềm lực cho TP HCM giai đoạn 2021 – 2025 gồm: Chương trình ứng dụng đô thị thông minh và chuyển đổi số, chương trình phát triển công nghệ công nghiệp, chương trình nghiên cứu chăm sóc sức khỏe, chương trình nông nghiệp công nghệ cao, chương trình quản lý và phát triển đô thị, chương trình vườn ươm khoa học trẻ.
Theo: Vnexpress
Nguồn: https://congnghiepcongnghecao.com.vn/tin-tuc/t23682/tp-hcm-uu-tien-du-an-ung-dung-cong-nghe-cao.html

SẼ NÂNG TẦM HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA

Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tập trung ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ… nhằm cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.   

Chú thích ảnh
Khách tham quan triển lãm các sản phẩm công nghệ tại Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia năm 2019 (Techfest 2019). Ảnh tư liệu: Minh Quyết/TTXVN

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết: Việc xây dựng và đẩy mạnh, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam là quá trình đầu tư lâu dài của Chính phủ cùng với quá trình phát triển của đất nước và doanh nghiệp. Trước mắt, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia và tăng cường sự gắn kết, hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp để đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong sản xuất, kinh doanh; Kết nối các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước, phát huy vai trò của hệ thống các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, gắn kết với các địa phương thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mang lại hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh tế – xã hội các địa phương.

Theo đó, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thực hiện các giải pháp nâng tầm hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia; hình thành và phát triển Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia tại 3 khu vực là: Thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò hạt nhân kết nối, phát triển hệ sinh thái và hình thành mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; khuyến khích sự tương tác, kết nối nguồn lực giữa hệ thống các Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nước và quốc tế. Đồng thời, phát triển 3 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi thế giới và 1 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương đến năm 2025. Đến năm 2030, phát triển 5 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi thế giới và 2 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương.

Ngoài ra, Bộ cũng đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ cao gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị; phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái số với các nền tảng dùng chung, các dịch vụ, mô hình kinh doanh mới; từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế số.

HL (TTXVN)

CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO ĐẾN NĂM 2030

Nghiên cứu, làm chủ, phát triển công nghệ cao, ứng dụng hiệu quả công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường, sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ; hình thành, phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực này.

Ảnh minh họa

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030.

Mục tiêu cụ thể của Chương trình là phát triển và làm chủ được 20 công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, ứng dụng có hiệu quả vào hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao của doanh nghiệp.

Gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 60% tổng giá trị xuất khẩu trong công nghiệp chế biến chế tạo, tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao.

Xây dựng và phát triển khoảng 500 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; xây dựng và phát triển khoảng 200 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có sự hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên phạm vi cả nước.

Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030 bao gồm 3 chương trình thành phần: 1- Chương trình nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao, phát triển sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì; 2- Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao do Bộ Công Thương chủ trì; 3- Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.

Để đạt mục tiêu trên, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Chương trình gồm: Hoàn thiện thể chế; hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ sử dụng kết quả nghiên cứu, thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ; hỗ trợ và tạo điều kiện cho ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ cao; nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và tác động của công nghệ cao.

Chí Kiên

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Chuong-trinh-quoc-gia-phat-trien-cong-nghe-cao-den-nam-2030/421182.vgp

ĐẨY MẠNH ÁP DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT CỦA VIỆT NAM

Universal Robots (UR), doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong lĩnh vực công nghệ robot cộng tác (cobots) có trụ sở tại Đan Mạch, hiện đang kêu gọi các nhà sản xuất trong nước đẩy mạnh việc áp dụng tự động hóa rô bốt nhằm gia tăng năng suất, đồng thời, giảm thiểu nguy cơ tai nạn lao động.

Hầu hết các nhà sản xuất trong nước hiện đang phải đối mặt với tình trạng ngày càng thiếu nguồn nhân lực có kỹ năng, từ đó, làm giảm năng suất và kìm hãm sự tăng trưởng chung của các doanh nghiệp. Trong khi đó, người sử dụng lao động còn phải chịu những chi phí lớn trong việc xử lý những vấn đề liên quan đến tai nạn lao động.

Công nghệ tự động hóa có thể giúp tăng năng suất và giảm tới 72% những nguyên nhân tai nạn
Công nghệ tự động hóa có thể giúp tăng năng suất và giảm thiểu tai nạn lao động

Ông James McKew – Giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Universal Robots cho biết: Cobots có thể thực hiện các tác vụ nguy hiểm hoặc có khả năng gây tổn thương cho con người. Các robot này được tích hợp sẵn các tính năng an toàn. Ví dụ, cánh tay robot sẽ hoạt động chậm lại khi có con người tiến vào khu vực mà robot đang làm việc. Cobots có thể thực hiện những công việc lặp đi lặp lại và có tính nguy hiểm trong sản xuất, giúp người lao động tránh được các chấn thương khi làm việc.

Hệ thống an toàn với độ tùy chỉnh cao của Universal Robots cho phép các công ty điều chỉnh các thông số khác nhau để giảm thiểu những rủi ro khi triển khai việc sử dụng robot công nghiệp. Một số tính năng an toàn có thể kể đến như giới hạn tốc độ, sức mạnh hoặc cử động của cobot, cũng như hạn chế không gian làm việc của cobots bằng cách xác định ranh giới an toàn. Việc gia tăng năng suất làm việc cùng với thiết kế an toàn của các giải pháp cobots giúp công nghệ tự động hóa mới này giảm tới 72% các nguyên nhân gây ra thương tích thường gặp trong môi trường sản xuất.

Khi chúng ta tiến gần hơn đến tầm nhìn công nghiệp 5.0 – nơi con người và máy móc làm việc cùng nhau bên trong những nhà máy thông minh, việc xem xét những yêu cầu và quy định cần thiết về an toàn trong môi trường làm việc mới sẽ ngày càng trở nên quan trọng. “Tôi tin tưởng rằng một lực lượng lao động mới sẽ ra đời, với con người và robot giúp đỡ lẫn nhau để cùng thực hiện vai trò của mình, cùng mang lại những cơ hội lớn để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới, đảm bảo sự an toàn và hài lòng với công việc tại nơi làm việc” – ông James McKew cho hay.

Ông McKew đã chỉ ra rằng, các công ty có thể đạt được lợi tức đầu tư (ROI) nhanh hơn bằng cách sử dụng cobots để tiết kiệm thời gian của người lao động, giúp họ thực hiện những quy trình có năng suất cao hơn, và hơn hết là học được những kỹ năng mới. Không giống như các robot truyền thống chỉ có thể được lập trình bởi những cá nhân có trình độ kỹ sư, cobots được thiết kế nhằm đơn giản hóa việc lập trình thông qua giao diện người-máy (HMI), một tính năng đã quá đỗi quen thuộc với bất kỳ ai sử dụng điện thoại thông minh.

Đối với các ứng dụng phức tạp hơn, Universal Robots có một mạng lưới toàn diện gồm các nhà tích hợp hệ thống được chứng nhận và trung tâm đào tạo được ủy quyền, sẵn sàng hỗ trợ người dùng trong việc vận hành thường nhật sau khi cài đặt hệ thống. Các tính năng và giao diện này khiến việc nghiên cứu chuyên sâu về ngành lập trình hoặc rô bốt học không còn quá cần thiết, đồng thời lượng kỹ năng và kiến thức cần thiết để sử dụng cobots cũng được giảm tối đa.

Universal Robots khuyến khích các nhà sản xuất trong nước áp dụng sự kết hợp hoàn hảo giữa con người và máy móc. Với cobots, các nhà sản xuất tại Việt Nam không còn cần phải lo ngại về những tác động tiêu cực của việc thiếu hụt lao động có trình độ. Sự hợp tác giữa robot và con người giúp giảm đáng kể thời gian, công sức và chi phí liên quan khi chỉ cần sử dụng cùng một cobot cho các tác vụ khác nhau vì cobots có thể linh hoạt thay đổi công việc và đem lại lợi tức đầu tư nhanh hơn đáng kể.

Quỳnh Nga

Nguồn: https://congthuong.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-nganh-cong-thuong-hinh-thanh-he-thong-san-xuat-quan-ly-thong-minh-152780.html

NHÀ MÁY SỐ – CHÌA KHÓA ĐỂ BẮT KỊP TỐC ĐỘ THAY ĐỔI CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THỜI ĐẠI 4.0

Số hóa dữ liệu, quản trị sản xuất thông minh là 2 yếu tố chính đánh giá mức độ thay đổi của các nhà máy sản xuất công nghiệp theo xu hướng hòa nhập CMCN 4.0.

Số hóa dữ liệu và quản trị sản xuất thông minh
Đây là 2 yếu tố chính để đánh giá mức độ thay đổi của các nhà máy sản xuất công nghiệp theo xu hướng hòa nhập CMCN 4.0.
Theo các chuyên gia công nghệ, việc ứng dụng hệ thống số hóa trong lưu trữ, quản lý và giám sát dữ liệu vận hành sản xuất sẽ đáp ứng nhu cầu số hóa nhà máy, số hóa hệ quản trị và điều hành sản xuất từ cấp lãnh đạo công ty, lãnh đạo nhà máy đến các phòng ban, phân xưởng; hệ thống quản trị điều hành tiên tiến, trực quan, online và theo thời gian thực giúp rút ngắn và giảm tối đa thời gian lập báo cáo, thời gian lập kế hoạch, cung cấp số liệu để đáp ứng kịp thời công tác giám sát, quản lý và điều hành của các nhà máy sản xuất; góp phần thúc đẩy, nâng cấp để hiện đại hóa hệ thống điều khiển, tối ưu hóa quá trình sản xuất, đáp ứng nhu cầu tăng năng suất và chất lượng, phát triển kinh doanh; hệ thống quản trị sản xuất thông minh có độ tin cậy và hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu thực tế của mọi ngành sản xuất; hệ thống có khả năng giao tiếp mở với các hệ thống khác, được phát triển liên tục cho nhu cầu số hóa.
Hệ thống số hóa, lưu trữ, quản lý và giám sát dữ liệu vận hành sản xuất là một hệ thống hội đủ 4 yếu tố: kho dữ liệu số cần thiết sử dụng chung cho doanh nghiệp; xây dựng ứng dụng hiển thị các thông số vận hành và các trang vận hành chính để theo dõi, giám sát trực tuyến; dữ liệu sản xuất sẽ được lọc tự động, lưu trữ và hiển thị theo thời gian thực, kết nối trực tuyến từ các hệ thống điều khiển quá trình, từ các phòng ban và các hệ thống dữ liệu khác để đảm bảo tính khách quan, minh bạch; và cuối cùng là hệ thống quản trị tiên tiến phục vụ cho các cấp lãnh đạo, quản lý công ty, nhà máy và các phòng ban.
Lấy từ ví dụ số hóa nhà máy sản xuất của Siemens XHQ. Trong hệ thống sản xuất, cấu trúc số sẽ được chia làm 4 lớp gồm kết nối, thu thập dữ liệu; quản lý, lưu trữ dữ liệu tập trung; xử lý dữ liệu và xuất dữ liệu sang hệ thống khác; phân tích và khai phá dữ liệu.
Việc số hóa dữ liệu chọn lọc của tất cả các hệ thống sản xuất, bản hành bảo trì… có thể xử lý dữ liệu liên tục từ hoạt động sản xuất của nhà máy; khả năng báo cáo và phân tích dữ liệu sản xuất linh động; tối ưu cho việc giám sát vận hành với độ tin cậy cao; thể hiện được sự liên kết trao đổi dữ liệu giữa các phòng ban và những công việc cần thực hiện để cải thiện sự hợp tác; hệ thống đảm bảo các tính năng kỹ thuật làm nền tảng để tiếp tục triển khai các bước số hóa trong thời gian tiếp theo.
Theo chuyên gia Nhà máy số ESTEC, ông Vương Ngọc Hoàng Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ giữ vai trò cốt lõi thì việc số hóa hệ thống sản xuất, quản trị và điều hành sản xuất được xem là xu hướng tất yếu và đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp hòa được vào dòng chảy công nghệ 4.0, từ đó, tăng chất lượng sản phẩm và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững”.
Thay đổi để bắt kịp tốc độ thị trường trong thời đại 4.0
Để bắt kịp tốc độ thay đổi của thị trường, chuyển đổi số là con đường tất yếu cho các doanh nghiệp.
Tại Hội thảo ứng dụng công nghệ 4.0 trong điều hành sản xuất kinh doanh, ông Nguyễn Thành Trung – chuyên gia công nghiệp 4.0, cho rằng tốc độ thay đổi của thị trường “đang diễn ra nhanh chưa từng có và khách hàng sẽ hoàn toàn nằm ở vị trí trung tâm”. Nếu như trước đây doanh nghiệp sản xuất dựa trên “cái mình có” thì hiện đang chuyển dần sang “cái người tiêu dùng cần”. Công nghiệp sản xuất đã đạt đến khả năng có thể thực hiện sản phẩm theo yêu cầu riêng biệt của mỗi khách hàng, sản phẩm thể hiện cá tính của người tiêu dùng thay vì sản xuất hàng loạt mà người tiêu dùng không có nhiều sự lựa chọn.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thay đổi cực kỳ nhanh chóng và chuyển đổi số là con đường duy nhất. Công nghiệp kỹ thuật số sẽ giúp các ngành công nghiệp chế biến kết nối thế giới ảo và thực tạo ra dữ liệu hiệu suất, hiện thực hóa và tối ưu hóa sản xuất.
Theo ông Trung, doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật số sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc tối ưu hóa sản xuất bằng việc hiện thực hóa các ý tưởng sản phẩm thông qua các sản phẩm ảo (công nghệ mô phỏng) trải qua khâu sản xuất ảo để đánh giá tính khả thi từ đó hiệu chỉnh để đưa vào sản xuất thực (tự động hóa) và cuối cùng kết thúc là sẽ ra sản phẩm thực tối ưu nhất đáp ứng tối đa yêu cầu của khách hàng với độ chính xác cao nhất.
Các chuyên gia cũng dự báo chỉ trong vòng 10 năm tới, các doanh nghiệp còn tồn tại được sẽ phải đáp ứng các yếu tố: giao hành nhanh chóng, duy trì tốc độ sản xuất kịp xu hướng người tiêu dùng, đảm bảo các giải pháp sản xuất cá nhân hóa trên quy mô lớn, theo dõi được toàn bộ các khâu sản xuất trong chuỗi giá trị và quản lý tuyệt đối tính chính xác của sản phẩm.
Trường Giang
Nguồn: https://congnghiepcongnghecao.com.vn/tin-tuc/t23600/nha-may-so–chia-khoa-de-bat-kip-toc-do-thay-doi-cua-thi-truong-trong-thoi-dai-4-0.html

107 SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO ĐƯỢC VIỆT NAM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN

Cùng với Danh mục 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, Thủ tướng Chính phủ cũng vừa ban hành Danh mục 107 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Quyết định 38 ban hành hai danh mục này có hiệu lực từ 15/2/2021.

107 sản phẩm công nghệ cao được Việt Nam khuyến khích phát triển
Thẻ thông minh, đầu đọc thẻ thông minh là 1 trong 107 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, theo Quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ (Ảnh minh họa)

Quyết định 38 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển đã được Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ký ngày 30/12/2020.

Có hiệu lực từ ngày 15/2/2021, Quyết định 38 thay thế cho các Quyết định 66/2014/QĐ-TTg, 13/2017/QĐ-TTg; khoản 2 Điều 1 và Điều 4 của Quyết định 34/2019/QĐ-TTg.

Cụ thể, theo quyết định mới, có 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, bao gồm: Công nghệ trí tuệ nhân tạo; Công nghệ Internet kết nối vạn vật; Công nghệ dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu lớn; Công nghệ chuỗi khối; Công nghệ ảo hóa, điện toán đám mây, điện toán lưới, điện toán biên, điện toán sương mù;

Công nghệ lượng tử, Công nghệ đảm bảo an ninh, an toàn mạng và bảo mật thông tin tiên tiến; Công nghệ bản sao số; Công nghệ thực tại ảo, thực tại tăng cường và thực tại trộn; Công nghệ xây dựng mô hình thông tin công trình; Công nghệ tin sinh học; Công nghệ thiết kế, tích hợp và tối ưu hóa các mạng lưới và hệ thống viễn thông trong hạ tầng viễn thông quốc gia; Công nghệ tích hợp hệ thống công nghệ viễn thông, CNTT…

Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển mới ban hành có 99 công nghệ, tăng 17 công nghệ so với danh mục cũ.

Cũng theo Quyết định mới, danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển gồm có 107 sản phẩm, trong đó có: Hệ thống, thiết bị, phần mềm, phân tích nhận dạng, dự báo, điều khiển dựa trên trí tuệ nhân tạo; Thiết bị, mô-đun, phần mềm, nền tảng, giải pháp tích hợp IoT và dịch vụ nền tảng IoT; Thiết bị, phần mềm, giải pháp, dịch vụ công nghệ chuỗi khối; Thiết bị, phần mềm, giải pháp, dịch vụ đảm bảo an ninh, an toàn mạng và bảo mật thông tin tiên tiến;

Thẻ thông minh, đầu đọc thẻ thông minh; Thiết bị, phần mềm, giải pháp, dịch vụ thực tại ảo, thực tại tăng cường và thực tại trộn; Mô hình thông tin công trình; Dịch vụ tư vấn, thiết kế và cho thuê hệ thống CNTT; Dịch vụ tích hợp và quản trị hệ thống công nghệ viễn thông, CNTT; dịch vụ BPO, KPO, ITO điện tử; dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử; dịch vụ tạo lập nội dung số tự động; Phần mềm, thiết bị, giải pháp, dịch vụ kiểm thử phần mềm tự động…

Quyết định 38 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn rõ, trường hợp công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao không thuộc các Danh mục nêu trên nhưng đáp ứng các quy định của Luật Công nghệ cao, có tính cấp thiết, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Theo Luật Công nghệ cao, công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.

Sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển là sản phẩm công nghệ cao được tạo ra từ công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và đáp ứng các điều kiện: có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu giá trị sản phẩm, có tính cạnh tranh cao và hiệu quả kinh tế – xã hội lớn, có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu, góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.

M.T
Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/99-cong-nghe-cao-duoc-viet-nam-uu-tien-dau-tu-phat-trien-274084.html
Đăng ký nhận thông tin