59% DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐÃ CHUYỂN SANG CÁC NỀN TẢNG SỐ

Chuyên gia từ Ngân hàng Thế giới cho biết các công nghệ số cho phép doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với cú sốc Covid -19. Tại Việt Nam, hơn một nửa doanh nghiệp đã chuyển sang những nền tảng số để đáp ứng bối cảnh mới.

Doanh nghiệp Việt chuyển đổi số để thích ứng

59% doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển sang các nền tảng số
Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng nền tảng số. (Nguồn:World Bank)

Shawn Tan, Chuyên gia kinh tế cao cấp Ban Tài chính, Năng lực cạnh tranh và Đổi mới, sáng tạo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho biết, nền kinh tế số đang ngày càng trở nên quan trọng hơn, đặc biệt là trong bối cảnh dịch Covid-19. “Các công nghệ kỹ thuật số cho phép doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với cú sốc Covid-19”, Shawn Tan nói.

Sự chuyển đổi kinh tế của Việt Nam từ nền kinh tế có thu nhập trung bình sang thu nhập cao đòi hỏi phải tăng trưởng dựa trên năng suất lao động. Công nghệ kỹ thuật số sẽ là một công cụ để Việt Nam tăng tốc độ tăng năng suất doanh nghiệp, nâng cao khả năng thích ứng và phát triển hoạt động kinh doanh mới.

Theo các chuyên gia, công nghệ số mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như: giảm chi phí thông tin và giao dịch; cung cấp hàng hóa, dịch vụ hiệu quả hơn, có chất lượng tốt hơn và có thể tiếp cận cơ sở khách hàng lớn hơn cùng nhiều thị trường mới.

“Việt Nam có nhiều tiềm năng để sử dụng quá trình phục hồi như một điểm uốn hướng tới một mô hình tăng trưởng cạnh tranh, bao trùm, thích ứng và xanh hơn, được thúc đẩy bởi đổi mới, sáng tạo”, Shawn Tan bình luận.

Báo cáo từ một cuộc khảo sát của World Bank tại Việt Nam cho thấy, năm 2020, có khoảng 48% doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển sang các nền tảng số để đáp ứng với dịch bệnh Covid-19. Con số này tăng lên 59% vào tháng 10/2020. Trong khi đó, chỉ có 5% doanh nghiệp đầu tư vào giải pháp số và 7% sắp xếp lại các tổ hợp sản phẩm.

Khi khảo sát việc áp dụng công nghệ ở Việt Nam, các chỉ số của World Bank cho thấy: “việc sử dụng công nghệ 4.0 ở Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu”.

59% doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển sang các nền tảng số
Các nền tảng số sử dụng theo chức năng của doanh nghiệp. (Nguồn: World Bank)


Việt Nam muốn đo lường kinh tế số

59% doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển sang các nền tảng số
Hội thảo về đo lường nền kinh tế số.

Trong khuôn khổ hội thảo đo lường kinh tế số do Tổng cục Thống kê và World Bank tổ chức chiều 15/4, bà Nguyễn Thu Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết việc đo lường, lượng hóa được nền kinh tế số có ý nghĩa quan trọng với Việt Nam.

Theo ông Jaffar Al-Rikabi, Chuyên gia kinh tế của World Bank, việc đo lường quy mô của nền kinh tế kỹ thuật số đối mặt với nhiều thách thức: kinh tế số là khái niệm mới với nhiều định nghĩa khác nhau, vấn đề chất lượng dữ liệu, khó đo lường mức tiêu thụ những sản phẩm kỹ thuật số, giá trị của việc đầu tư vào dữ liệu trong nền kinh tế hiện đại khó được xác định, đo lường nền kinh tế chia sẻ và cả những thách thức trong việc tìm hiểu vị trí hoạt động của nền kinh tế khi các công ty thu lợi nhiều từ hoạt động xuyên biên giới.

Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy nền kinh tế số có thể được đo lường từ phía sản xuất hoặc phía sử dụng (đo lường từ Cung – Cầu – PV). Khi muốn biết quy mô của nền kinh tế kỹ thuật số, chúng ta đo lường hoạt động sản xuất từ phía cung. Bên cung thường liên quan đến lĩnh vực sản xuất và thương mại kinh tế kỹ thuật số, chẳng hạn như giá trị của hoạt động đầu tư, việc làm, nghiên cứu và phát triển. Trong khi đó, muốn kiểm tra tác động kinh tế của số hóa đối với nền kinh tế và xã hội lớn hơn (ví dụ như đối với năng suất và tiền lương), phải kiểm tra việc ứng dụng nó trong nền kinh tế kỹ thuật số.

Sau khi trao đổi kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới, lãnh đạo Tổng cục Thống kê cho biết, đo lường kinh tế số là vấn đề kỹ thuật và rất phức tạp, nhất là khi việc nhận dạng, thu thập thông tin vẫn còn là điều mới mẻ.

Ở một số nước phát triển cũng như các quốc gia xác định chuyển đổi số là ngành mũi nhọn sẽ có sự đầu tư cho việc thu thập thông tin để đưa ra các quyết định cũng như định hướng đầu tư cho hạ tầng số, kinh tế số đối với phát triển kinh tế.

“Việt Nam đang lựa chọn kinh tế số là một trong những ưu tiên hàng đầu. Do đó, chúng tôi mong muốn có những lời khuyên để có thể đưa ra các quyết sách, đặc biệt là thống nhất về cách hiểu và cách nhận dạng đo lường kinh tế số hiện nay và hướng đến tương lai”, bà Hương nói thêm.

Duy Vũ

Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/su-dung-cong-nghe-4-0-o-viet-nam-van-dang-o-giai-doan-dau-281908.html

NHÀ MÁY SỐ – CHÌA KHÓA ĐỂ BẮT KỊP TỐC ĐỘ THAY ĐỔI CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THỜI ĐẠI 4.0

Số hóa dữ liệu, quản trị sản xuất thông minh là 2 yếu tố chính đánh giá mức độ thay đổi của các nhà máy sản xuất công nghiệp theo xu hướng hòa nhập CMCN 4.0.

Số hóa dữ liệu và quản trị sản xuất thông minh
Đây là 2 yếu tố chính để đánh giá mức độ thay đổi của các nhà máy sản xuất công nghiệp theo xu hướng hòa nhập CMCN 4.0.
Theo các chuyên gia công nghệ, việc ứng dụng hệ thống số hóa trong lưu trữ, quản lý và giám sát dữ liệu vận hành sản xuất sẽ đáp ứng nhu cầu số hóa nhà máy, số hóa hệ quản trị và điều hành sản xuất từ cấp lãnh đạo công ty, lãnh đạo nhà máy đến các phòng ban, phân xưởng; hệ thống quản trị điều hành tiên tiến, trực quan, online và theo thời gian thực giúp rút ngắn và giảm tối đa thời gian lập báo cáo, thời gian lập kế hoạch, cung cấp số liệu để đáp ứng kịp thời công tác giám sát, quản lý và điều hành của các nhà máy sản xuất; góp phần thúc đẩy, nâng cấp để hiện đại hóa hệ thống điều khiển, tối ưu hóa quá trình sản xuất, đáp ứng nhu cầu tăng năng suất và chất lượng, phát triển kinh doanh; hệ thống quản trị sản xuất thông minh có độ tin cậy và hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu thực tế của mọi ngành sản xuất; hệ thống có khả năng giao tiếp mở với các hệ thống khác, được phát triển liên tục cho nhu cầu số hóa.
Hệ thống số hóa, lưu trữ, quản lý và giám sát dữ liệu vận hành sản xuất là một hệ thống hội đủ 4 yếu tố: kho dữ liệu số cần thiết sử dụng chung cho doanh nghiệp; xây dựng ứng dụng hiển thị các thông số vận hành và các trang vận hành chính để theo dõi, giám sát trực tuyến; dữ liệu sản xuất sẽ được lọc tự động, lưu trữ và hiển thị theo thời gian thực, kết nối trực tuyến từ các hệ thống điều khiển quá trình, từ các phòng ban và các hệ thống dữ liệu khác để đảm bảo tính khách quan, minh bạch; và cuối cùng là hệ thống quản trị tiên tiến phục vụ cho các cấp lãnh đạo, quản lý công ty, nhà máy và các phòng ban.
Lấy từ ví dụ số hóa nhà máy sản xuất của Siemens XHQ. Trong hệ thống sản xuất, cấu trúc số sẽ được chia làm 4 lớp gồm kết nối, thu thập dữ liệu; quản lý, lưu trữ dữ liệu tập trung; xử lý dữ liệu và xuất dữ liệu sang hệ thống khác; phân tích và khai phá dữ liệu.
Việc số hóa dữ liệu chọn lọc của tất cả các hệ thống sản xuất, bản hành bảo trì… có thể xử lý dữ liệu liên tục từ hoạt động sản xuất của nhà máy; khả năng báo cáo và phân tích dữ liệu sản xuất linh động; tối ưu cho việc giám sát vận hành với độ tin cậy cao; thể hiện được sự liên kết trao đổi dữ liệu giữa các phòng ban và những công việc cần thực hiện để cải thiện sự hợp tác; hệ thống đảm bảo các tính năng kỹ thuật làm nền tảng để tiếp tục triển khai các bước số hóa trong thời gian tiếp theo.
Theo chuyên gia Nhà máy số ESTEC, ông Vương Ngọc Hoàng Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ giữ vai trò cốt lõi thì việc số hóa hệ thống sản xuất, quản trị và điều hành sản xuất được xem là xu hướng tất yếu và đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp hòa được vào dòng chảy công nghệ 4.0, từ đó, tăng chất lượng sản phẩm và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững”.
Thay đổi để bắt kịp tốc độ thị trường trong thời đại 4.0
Để bắt kịp tốc độ thay đổi của thị trường, chuyển đổi số là con đường tất yếu cho các doanh nghiệp.
Tại Hội thảo ứng dụng công nghệ 4.0 trong điều hành sản xuất kinh doanh, ông Nguyễn Thành Trung – chuyên gia công nghiệp 4.0, cho rằng tốc độ thay đổi của thị trường “đang diễn ra nhanh chưa từng có và khách hàng sẽ hoàn toàn nằm ở vị trí trung tâm”. Nếu như trước đây doanh nghiệp sản xuất dựa trên “cái mình có” thì hiện đang chuyển dần sang “cái người tiêu dùng cần”. Công nghiệp sản xuất đã đạt đến khả năng có thể thực hiện sản phẩm theo yêu cầu riêng biệt của mỗi khách hàng, sản phẩm thể hiện cá tính của người tiêu dùng thay vì sản xuất hàng loạt mà người tiêu dùng không có nhiều sự lựa chọn.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thay đổi cực kỳ nhanh chóng và chuyển đổi số là con đường duy nhất. Công nghiệp kỹ thuật số sẽ giúp các ngành công nghiệp chế biến kết nối thế giới ảo và thực tạo ra dữ liệu hiệu suất, hiện thực hóa và tối ưu hóa sản xuất.
Theo ông Trung, doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật số sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc tối ưu hóa sản xuất bằng việc hiện thực hóa các ý tưởng sản phẩm thông qua các sản phẩm ảo (công nghệ mô phỏng) trải qua khâu sản xuất ảo để đánh giá tính khả thi từ đó hiệu chỉnh để đưa vào sản xuất thực (tự động hóa) và cuối cùng kết thúc là sẽ ra sản phẩm thực tối ưu nhất đáp ứng tối đa yêu cầu của khách hàng với độ chính xác cao nhất.
Các chuyên gia cũng dự báo chỉ trong vòng 10 năm tới, các doanh nghiệp còn tồn tại được sẽ phải đáp ứng các yếu tố: giao hành nhanh chóng, duy trì tốc độ sản xuất kịp xu hướng người tiêu dùng, đảm bảo các giải pháp sản xuất cá nhân hóa trên quy mô lớn, theo dõi được toàn bộ các khâu sản xuất trong chuỗi giá trị và quản lý tuyệt đối tính chính xác của sản phẩm.
Trường Giang
Nguồn: https://congnghiepcongnghecao.com.vn/tin-tuc/t23600/nha-may-so–chia-khoa-de-bat-kip-toc-do-thay-doi-cua-thi-truong-trong-thoi-dai-4-0.html

ĐIỆN TOÁN BIÊN – XU HƯỚNG CÔNG NGHỆ ĐƯỢC MONG ĐỢI NĂM 2021

Từ lâu đã được dự báo là đòn bẩy lớn tiếp theo cho chuyển đổi kỹ thuật số, điện toán biên (Edge Computing) có nhiều hứa hẹn trong khắc phục các vấn đề về độ trễ của các giải pháp đám mây.

Điện toán biên sẽ là một thành phần quan trọng đối với hoạt động của xe tự lái trong tương lai gần.

Điện toán đám mây (Cloud Computing) là điện toán được thực hiện bởi một mạng lưới các máy chủ được kết nối trong một trung tâm dữ liệu. Người dùng truy cập hệ thống này thông qua một thiết bị được kết nối internet mà bản thân nó không tự tham gia vào các tác vụ xử lý.

Điện toán biên về bản chất là một dạng điện toán đám mây, trong đó điện toán được phân phối trên các thiết bị thay vì ở một vị trí, trên cái được gọi là “máy chủ gốc” trong điện toán đám mây.

Trên thực tế, “Edge Computing” tái tạo một hệ thống giống như đám mây bằng cách sử dụng “máy chủ biên” hoặc “micro-server” thay vì máy chủ gốc. Trong khi Edge Computing hoạt động rất giống như điện toán đám mây thông thường với người dùng cuối, các thiết bị ở biên chia sẻ nhiệm vụ xử lý với máy chủ.

Điện toán biên rất quan trọng trong các thiết bị hiện đại và thế hệ tiếp theo vì nó đáng tin cậy và an toàn hơn điện toán đám mây. Nó cũng mạnh mẽ và linh hoạt hơn so với việc xử lý cứng bên trên thiết bị.

Nhiều hoạt động của các trang web hoặc năng suất mà người dùng thực hiện với tư cách cá nhân hay doanh nghiệp, hiện đang gửi dữ liệu đến trung tâm dữ liệu đám mây và phản hồi của các trung tâm này có thể dẫn đến một số độ trễ nhất định.

Bất chấp những điểm mới về sự hiện diện của điện toán đám mây đang xuất hiện với số lượng lớn, việc xử lý dữ liệu trên các thiết bị với điện toán biên đã được thúc đẩy trong vài năm qua như một lựa chọn mang tính cách mạng cho kinh doanh hằng ngày, tăng cường tốc độ, năng suất và cộng tác.

Điện toán biên cho phép các thiết bị nhanh chóng xử lý, phân tích và hành động dựa trên dữ liệu mà chúng đã thu thập. Điều đó có thể là trong xu hướng bảo trì, nơi các cảm biến IoT theo dõi tình trạng máy với độ trễ thấp và thực hiện phân tích trong thời gian thực hoặc theo dõi bệnh nhân tại bệnh viện, nơi xử lý dữ liệu cục bộ, bảo đảm quyền riêng tư của bệnh nhân.

Công nghệ này sẽ là chìa khóa để quản lý giao thông và lái xe tự động, trong đó độ trễ thấp không phải là điều dễ có, nhưng rất cần thiết.

5g_edge_computing.jpg -0
Điện toán biên hỗ trợ 5G sẽ tạo ra lợi thế cho dữ liệu thời gian thực.

Công ty nghiên cứu thị trường IDC dự đoán, thị trường điện toán biên trên toàn thế giới sẽ tăng lên 250,6 tỷ USD vào năm 2024. Nhưng sự tăng trưởng này sẽ không phụ thuộc vào các giải pháp điện toán đám mây. Điện toán biên và điện toán đám mây công cộng không phải là không tương thích với nhau.

Keith Higgins, Phó Chủ tịch bộ phận chuyển đổi kỹ thuật số tại Rockwell Automation cho biết, tích hợp các chức năng biên với cơ sở hạ tầng đám mây hiện có sẽ giảm bớt lo lắng về các vấn đề hậu cần của hạ tầng công nghệ và thay vào đó, tập trung hơn vào việc làm thế nào tạo ra một cỗ máy thông minh hơn.

Ba đám mây công cộng lớn hiện nay là AWS của Amazon, Google Could Platform và Microsoft Azure, đều đang bắt đầu cung cấp các khả năng tính toán vượt trội hơn, nhận ra giá trị của việc xử lý và phân tích dữ liệu gần với nguồn hơn. Sự chồng chéo giữa điện toán đám mây và điện toán biên ở chỗ cả hai cùng có lợi. Năm 2021, sẽ chứng kiến ​​sự tương tác và phát triển mạnh mẽ của hai công nghệ này.Năm 2021 có thể là một điểm mấu chốt thực sự cho điện toán biên. Là một trong vô số công nghệ chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, điện toán biên sẽ tiếp tục phát triển khi làm việc từ xa, dựa trên nhu cầu về hiệu suất ứng dụng vượt trội.

Nếu tương lai của bán lẻ là bán lẻ kết hợp, thì thương mại điện tử sẽ dựa vào mạng phân phối nội dung và các dịch vụ biên để cung cấp hiệu suất, độ tin cậy và bảo mật tốt hơn cho người tiêu dùng. Những tác động mạnh mẽ của điện toán biên đối với trải nghiệm của khách hàng và người dùng là một lý do lớn khiến nó xuất hiện vào đầu những năm 2020.

Để năm 2021 trở thành thành năm bản lề và mang lại nhiều lợi ích nhất từ công nghệ điện toán biên, đội ngũ kỹ sư sẽ phải giải quyết các yêu cầu xử lý dữ liệu, phân tích và quy trình làm việc cụ thể. Bên cạnh đó, các yêu cầu về quy định, bảo mật và an toàn cũng cần được tham khảo.

Cách tiếp cận tổng thể này rất quan trọng để hiểu được vị trí của cơ sở hạ tầng điện toán biên về mặt vật lý, trong số các cân nhắc thiết kế khác.

Anh Ngọc (theo TECHHQ, Techrep, TWA)

Nguồn: https://nhandan.com.vn/thong-tin-so/dien-toan-bien-xu-huong-cong-nghe-duoc-mong-doi-nam-2021-631645/

107 SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO ĐƯỢC VIỆT NAM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN

Cùng với Danh mục 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, Thủ tướng Chính phủ cũng vừa ban hành Danh mục 107 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Quyết định 38 ban hành hai danh mục này có hiệu lực từ 15/2/2021.

107 sản phẩm công nghệ cao được Việt Nam khuyến khích phát triển
Thẻ thông minh, đầu đọc thẻ thông minh là 1 trong 107 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, theo Quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ (Ảnh minh họa)

Quyết định 38 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển đã được Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ký ngày 30/12/2020.

Có hiệu lực từ ngày 15/2/2021, Quyết định 38 thay thế cho các Quyết định 66/2014/QĐ-TTg, 13/2017/QĐ-TTg; khoản 2 Điều 1 và Điều 4 của Quyết định 34/2019/QĐ-TTg.

Cụ thể, theo quyết định mới, có 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, bao gồm: Công nghệ trí tuệ nhân tạo; Công nghệ Internet kết nối vạn vật; Công nghệ dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu lớn; Công nghệ chuỗi khối; Công nghệ ảo hóa, điện toán đám mây, điện toán lưới, điện toán biên, điện toán sương mù;

Công nghệ lượng tử, Công nghệ đảm bảo an ninh, an toàn mạng và bảo mật thông tin tiên tiến; Công nghệ bản sao số; Công nghệ thực tại ảo, thực tại tăng cường và thực tại trộn; Công nghệ xây dựng mô hình thông tin công trình; Công nghệ tin sinh học; Công nghệ thiết kế, tích hợp và tối ưu hóa các mạng lưới và hệ thống viễn thông trong hạ tầng viễn thông quốc gia; Công nghệ tích hợp hệ thống công nghệ viễn thông, CNTT…

Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển mới ban hành có 99 công nghệ, tăng 17 công nghệ so với danh mục cũ.

Cũng theo Quyết định mới, danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển gồm có 107 sản phẩm, trong đó có: Hệ thống, thiết bị, phần mềm, phân tích nhận dạng, dự báo, điều khiển dựa trên trí tuệ nhân tạo; Thiết bị, mô-đun, phần mềm, nền tảng, giải pháp tích hợp IoT và dịch vụ nền tảng IoT; Thiết bị, phần mềm, giải pháp, dịch vụ công nghệ chuỗi khối; Thiết bị, phần mềm, giải pháp, dịch vụ đảm bảo an ninh, an toàn mạng và bảo mật thông tin tiên tiến;

Thẻ thông minh, đầu đọc thẻ thông minh; Thiết bị, phần mềm, giải pháp, dịch vụ thực tại ảo, thực tại tăng cường và thực tại trộn; Mô hình thông tin công trình; Dịch vụ tư vấn, thiết kế và cho thuê hệ thống CNTT; Dịch vụ tích hợp và quản trị hệ thống công nghệ viễn thông, CNTT; dịch vụ BPO, KPO, ITO điện tử; dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử; dịch vụ tạo lập nội dung số tự động; Phần mềm, thiết bị, giải pháp, dịch vụ kiểm thử phần mềm tự động…

Quyết định 38 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn rõ, trường hợp công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao không thuộc các Danh mục nêu trên nhưng đáp ứng các quy định của Luật Công nghệ cao, có tính cấp thiết, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Theo Luật Công nghệ cao, công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.

Sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển là sản phẩm công nghệ cao được tạo ra từ công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và đáp ứng các điều kiện: có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu giá trị sản phẩm, có tính cạnh tranh cao và hiệu quả kinh tế – xã hội lớn, có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu, góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.

M.T
Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/99-cong-nghe-cao-duoc-viet-nam-uu-tien-dau-tu-phat-trien-274084.html

CMC TS, SAMSUNG SDS VÀ HPE GIỚI THIỆU GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CHO NHÀ MÁY THÔNG MINH

Hội thảo trực tuyến về nhà máy thông minh “Manufacturing Innovation 2020” vừa được CMC Technology & Solution phối hợp với Hewlett Packard Enterprise và Samsung SDS phối hợp tổ chức đã diễn ra với sự tham gia của hơn 150 khách hàng trên nền tảng Microsoft Teams.

Hạ tầng siêu hội tụ của HPE cho nhà máy thông minh

HPE là hãng sản xuất phần cứng và đã kết hợp với nhiều hãng công nghệ khác để phát triển hệ thống nhà máy thông minh. HPE cung cấp cung cấp đầy đủ giải pháp từ đầu đến cuối, từ phát triển sản phẩm, vận hành, kiểm soát chất lượng đến đảm bảo an toàn cho hoạt động nhà máy.

Ông Sapan Kumar, Trưởng nhóm Giải pháp dành cho khối Sản xuất và AI, HPE Khu vực Châu Á Thái Bình Dương đưa ra ví dụ về dự án nhà máy thông minh mà HPE đã triển khai cho một nhà máy tại Mỹ.

Ở giai đoạn tổng hợp và phân tích dữ liệu, HPE có dòng sản phẩm GL10/20 hoặc Edgeline EL3000 có thể gắn đầu thu cảm ứng (sensor). Dòng máy này của HPE có khả năng chịu được môi trường khắc nghiệt, nhiệt độ cao như ở ngoài trời mà không cần đặt trong một trung tâm dữ liệu.

Dữ liệu sau khi được thu thập đầy đủ sẽ gửi về trung tâm dữ liệu. Tại đây, dữ liệu được phân tích, mô phỏng và đưa lên báo cáo dashboard, giúp lãnh đạo nhà máy có cái nhìn tổng quan về hoạt động của nhà máy và đưa ra quyết định phù hợp. Thiết bị trung tâm dữ liệu của HPE gồm dòng máy chủ Edgeline EL4000. Nếu nhà máy không có điều kiện xây dựng một trung tâm dữ liệu hoàn chỉnh, HPE có khả năng xây dựng một trung tâm dữ liệu di động với kích thước chỉ lớn hơn một tủ rack nhưng bao gồm đủ tất cả các thành phần để gắn các thiết bị IT trong đó.

Ông Sapan nhấn mạnh một số giải pháp có thể triển khai ngay như video analytics (phân tích hình ảnh video), giúp doanh nghiệp kiểm soát người lao động tuân thủ điều kiện an toàn làm việc hay kiểm soát ra vào trong nhà máy. Hệ thống phân tích hình ảnh của HPE có sử dụng những camera có độ phân giải tốt với ống kính hiển vi, có thể phát hiện những lỗi siêu nhỏ lên đến 0,1mm trong sản phẩm.

Giải pháp nhà máy thông minh tăng hiệu suất cho nhà máy

Trong hội thảo, CMC TS và Samsung SDS đã giới thiệu về giải pháp nhà máy thông minh Samsung Intelligent Factory, trong đó tập trung vào nền tảng Samsung Nexplant và phần mềm quản lý điều hành sản xuất Nexplant MES (Manufacturing Execution System). Từ tháng 6/2018, Tập đoàn CMC đã ký kết hợp đồng hợp tác chiến lược với Samsung SDS. CMC sẽ phụ trách việc triển khai giải pháp quản lý và điều hành nhà máy thông minh MES của Samsung SDS cho các khách hàng tại Việt Nam cũng như trong khu vực.

Theo chuyên gia của Samsung SDS, sự phát triển của nhà máy có thể chia thành 5 cấp độ. Ở cấp độ đỉnh cao nhất của một nhà máy là sản xuất thông minh (Intelligent Manufacturing), các máy móc được điều khiển tự động, hầu như không còn yếu tố con người, các dữ liệu được phân tích và phỏng đoán thường xuyên nhờ ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ 5G,…

Phần mềm quản lý điều hành sản xuất MES (Manufacturing Execution System) thuộc nền tảng Samsung Nexplant. Samsung Nexplant là nền tảng chuyển đổi số ứng dụng trí tuệ nhân tạo gồm 3 yếu tố: Trí tuệ sản xuất, Trí tuệ quản lý vật liệu và thiết bị, Trí tuệ nhà máy. Bộ giải pháp này của Samsung SDS phục vụ hầu hết các hoạt động vận hành của nhà máy.

MES là hệ thống quản lý sản xuất tổng hợp tập trung vào việc điều khiển, giám sát thời gian thực, quản lý lịch sử công việc và lưu thông hàng hóa, nắm bắt tình trạng, quản lý hàng lỗi… MES giúp các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ giải quyết được vấn đề chi phí sản xuất, giảm thiểu sai sót khi quản lý bằng tay, từ đó không chỉ cải thiện công đoạn sản xuất mà còn đưa ra quyết định tối ưu để quản lý vận hành sản xuất.

Trước thực tế nhiều nhà máy tại Việt Nam vẫn còn đang loay hoay chưa biết bắt đầu xây dựng nền tảng nhà máy thông minh từ đâu, giải pháp toàn diện từ hạ tầng cho đến giải pháp, từ tư vấn đến triển khai do CMC TS, HPE, Samsung SDS cung cấp sẽ là một lựa chọn giúp doanh nghiệp sản xuất tăng tốc chuyển đổi số.

Tổng Công ty Công nghệ và Giải pháp CMC (CMC Technology & Solution) là doanh nghiệp chiến lược và dẫn đầu của Tập đoàn CMC trong việc cung cấp các giải pháp, dịch vụ tổng thể về công nghệ thông tin.

Hiện nay, CMC Technology & Solution đang tư vấn, cung cấp và triển khai dịch vụ IT cho hơn 3000 khách hàng là các Bộ ban ngành, hiệp hội, doanh nghiệp lớn tại hơn 63 tỉnh thành trên cả nước và là đối tác chiến lược của hơn 40 hãng công nghệ hàng đầu thế giới. Xem lại bài trình bày hội thảo tại fanpage CMC Technology & Solution: https://bit.ly/2ygEhys

Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/cmc-ts-samsung-sds-va-hpe-gioi-thieu-giai-phap-toan-dien-cho-nha-may-thong-minh-62725.html

 

Đăng ký nhận thông tin