CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO ĐẾN NĂM 2030

Nghiên cứu, làm chủ, phát triển công nghệ cao, ứng dụng hiệu quả công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường, sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ; hình thành, phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực này.

Ảnh minh họa

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030.

Mục tiêu cụ thể của Chương trình là phát triển và làm chủ được 20 công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, ứng dụng có hiệu quả vào hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao của doanh nghiệp.

Gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 60% tổng giá trị xuất khẩu trong công nghiệp chế biến chế tạo, tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao.

Xây dựng và phát triển khoảng 500 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; xây dựng và phát triển khoảng 200 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có sự hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên phạm vi cả nước.

Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030 bao gồm 3 chương trình thành phần: 1- Chương trình nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao, phát triển sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì; 2- Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao do Bộ Công Thương chủ trì; 3- Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.

Để đạt mục tiêu trên, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Chương trình gồm: Hoàn thiện thể chế; hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ sử dụng kết quả nghiên cứu, thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ; hỗ trợ và tạo điều kiện cho ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ cao; nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và tác động của công nghệ cao.

Chí Kiên

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Chuong-trinh-quoc-gia-phat-trien-cong-nghe-cao-den-nam-2030/421182.vgp

NỀN TẢNG CÔNG NGHỆ NÀO SẼ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VƯỢT QUA ĐẠI DỊCH COVID?

Đại dịch đã trở thành chất xúc tác khiến nhiều xu hướng công nghệ quan trọng hình thành, ứng dụng mạnh mẽ, bao gồm thương mại điện tử, tự động hóa và tối ưu hóa chuỗi cung ứng…

Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục tác động nặng nề, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những thay đổi, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số.

Tự động hóa thông minh, robot, trí tuệ nhân tạo (AI) kết hợp với máy học và các giải pháp phân tích dự báo… đang là những nền tảng công nghệ hàng đầu mà các doanh nghiệp cần ưu tiên ứng dụng để vượt khó khăn, phát triển ổn định trong một trạng thái “bình thường mới”, duy trì lợi nhuận và có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Theo phân tích của các chuyên gia, đại dịch đã trở thành chất xúc tác khiến nhiều xu hướng công nghệ quan trọng hình thành, ứng dụng mạnh mẽ, bao gồm thương mại điện tử, tự động hóa và tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Do đó, việc tích hợp các giải pháp công nghệ mới nhằm duy trì hoạt động và lợi nhuận, cũng như tối ưu hóa công việc để hỗ trợ liên tục nhu cầu cao điểm và ngăn ngừa sự gián đoạn chuỗi cung ứng sẽ trở nên vô cùng cần thiết cho thành công trong kinh doanh của các doanh nghiệp.

TỰ ĐỘNG HOÁ, AI TRONG CÁC NGÀNH SẢN XUẤT VÀ LOGISTICS 

Trong báo cáo nghiên cứu về các xu hướng công nghệ doanh nghiệp hàng đầu cho năm 2021 vừa được hãng Zebra Technologies công bố cuối tuần qua đã chỉ ra các xu hướng công nghệ hàng đầu cho doanh nghiệp trong năm 2021 trong đó nhấn mạnh đến công nghệ tự động hóa thông minh, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot.

Theo phân tích của hãng này, tự động hóa thông minh đã được hỗ trợ bởi các công cụ trợ lý ảo trên thị trường người tiêu dùng như Alexa và Siri. Các doanh nghiệp đang từng bước thu được những thành công ban đầu trong việc áp dụng loại công nghệ máy học này để cải thiện quy trình làm việc, giao hàng và trải nghiệm của khách hàng.

Ngoài ra, AI có thể cải thiện khả năng đề xuất hành động tiếp theo tốt nhất cho các doanh nghiệp, còn các công nghệ AI và robot đang đưa tự động hóa thông minh trở thành một phần của Internet vạn vật (IoT) và xu hướng Công nghiệp 4.0. Do đó, dự kiến việc áp dụng công nghệ AI trong ngành sản xuất và hậu cần kho vận (logistics) sẽ gia tăng vào năm 2021.

Bên cạnh đó, các chuyên gia hãng này cũng cho rằng, việc chuyển dịch sang mua sắm trực tuyến đã có một bước nhảy vọt, thúc đẩy thương mại điện tử tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 2020 là thời điểm lên ngôi của thương mại điện tử, hiện được dự báo sẽ chiếm 28% doanh số của chuỗi bán lẻ trên toàn cầu. Điều này rút ngắn quá trình chuyển dịch sang thương mại trực tuyến khoảng 3 năm, buộc các nhà bán lẻ phải nhanh chóng thích ứng bằng cách hợp lý hóa các cửa hàng, hoàn tất đơn hàng và hậu cần để có năng suất cao hơn khi họ phải đối mặt với những thách thức về lợi nhuận liên quan đến việc xử lý đơn hàng thương mại điện tử.

Trong lĩnh vực chuỗi cung ứng và kho hàng, các công nghệ tự động hóa vật lý, nhận dạng qua tần số vô tuyến RFID và công nghệ cảm biến nhiệt độ – kết hợp với sự phát triển của robot, bao gồm cả robot có khả năng giao tiếp và làm việc cộng tác với con người (cobot) có thể giúp các trung tâm hoàn tất đơn hàng nâng cao hiệu quả hoạt động của thương mại điện tử.

Tự động hóa thông minh hay sự kết hợp giữa công nghệ RPA và AI để thực hiện việc tự động hóa một chiều hoặc nhiều quy trình nhanh chóng, giúp DN bứt phá trong quá trình chuyển đổi số. Hãng Gartner đánh giá công nghệ này sẽ trở thành xu hướng số 1 trên thế giới trong năm 2021 với những tác động và giá trị to lớn. Trong năm 2019, lĩnh vực này được định giá 3,5 tỷ USD nhưng dự báo đến năm 2027, con số này sẽ lên đến 25 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng lên đến hơn 40%, cao hơn bất kỳ xu hướng công nghệ nào.

Ở Việt Nam đã có nhiều đơn vị đưa ra các giải pháp về tự động hóa, robot và AI trong đó akabot nổi lên với giải pháp tự động hóa quy trình nghiệp vụ RPA toàn diện đầu tiên tại Việt Nam và nằm trong top 6 nền tảng toàn cầu. Các giải pháp của akaBot có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như tài chính ngân hàng, bán lẻ, sản xuất, logistics… giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí đến 60%, tăng năng suất đến 80% và giảm thời gian xử lý đến 90%.

KHAI THÁC DỮ LIỆU – MỞ RA CƠ HỘI KINH DOANH LỚN 

Trong xu hướng chuyển đổi số, số hóa doanh nghiệp, việc khai thác, phân tích tài nguyên dữ liệu lớn đang bùng nổ sẽ mở ra những cơ hội kinh doanh mới mang lại giá trị lớn cho các doanh nghiệp`. Báo cáo của Zebra nhấn mạnh, dữ liệu là một tài sản vô giá và sức mạnh của nó chỉ được khai phóng nếu được cung cấp đúng lúc, cho đúng người để có kết quả hiệu quả hơn. Việc áp dụng giải pháp phân tích dự báo bằng cách sử dụng dữ liệu gần như thời gian thực sẽ giúp các doanh nghiệp tăng hiệu suất và độ tin cậy của hành động.

Phân tích về những cơ hội từ dữ liệu lớn mang lại, ông Ying Shun Liang, Cố vấn quy trình công nghiệp bộ phận sản xuất, Dassault Systèmes Nam châu Á-Thái Bình Dương cho rằng, khi các nhà sản xuất nghĩ cách gia tăng vận hành hoặc chuyển đổi từ sản xuất quy mô lớn sang quy mô nhỏ hơn và theo hướng sản xuất theo yêu cầu hơn, dữ liệu sẽ trở thành nhân tố đột phá. Dữ liệu lớn đang không ngừng xuất hiện từ các nguồn đầu vào khác nhau, đặc biệt là khi các nhà sản xuất ngày càng ứng dụng IIoT (Internet vạn vật của công nghiệp sản xuất) vào các hoạt động sản xuất và vận hành.

Trước đây, các nhà sản xuất không có dữ liệu để được cảnh báo về những vấn đề tiềm ẩn. Thay vào đó, doanh nghiệp phải đưa ra giả thuyết về một vấn đề trước khi thu thập được dữ liệu để xác thực. Quá trình này đã làm tăng chi phí vận hành khi việc kiểm tra thủ công cho thấy gây tốn kém về chi phí, thời gian và nhân lực. Ngày nay, IIoT giúp các nhà sản xuất nhìn nhận quá trình và sản phẩm với mức độ chi tiết. Dữ liệu có thể được thu thập tại mỗi điểm trong chuỗi cung ứng, mạng lưới sản phẩm và phân phối. Với khả năng phân tích mạnh mẽ dựa trên AI và Học máy (Machine Learning), các nhà sản xuất có thể thu thập thông tin mà họ cần để giải quyết một vấn đề.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp dành hơn 30% thời gian vào các quy trình thủ công, bao gồm tìm kiếm dữ liệu và cập nhật thông tin… ảnh hưởng đến năng suất, kỹ nghệ và lợi nhuận. Chỉ 6% các nhà sản xuất hiện nay đặc biệt tự tin vào hệ thống và khả năng hiển thị đầu cuối của mình.

Trong khi đó, các nhà máy của tương lai có thể kết nối tất cả dữ liệu một cách liền mạch và mở rộng các kết nối đó trên toàn bộ chuỗi cung ứng, cung cấp khả năng hiển thị đầu cuối trên tất cả các quy trình. Điều này giúp mang đến các thông tin chính xác và đưa ra quyết định nhanh hơn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, các nhà sản xuất cũng có thể so sánh dữ liệu của mình với dữ liệu của các nhà máy khác, từ đó liên tục cải tiến để nâng cao sản lượng và hiệu suất.

Trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ đột phá, ông Ying Shun Liang cho rằng, giá trị của dữ liệu lớn tương đương với giá trị của một viên kim cương. Do vậy, các doanh nghiệp không chỉ cần khai thác mà còn phải xử lý dữ liệu thì mới có thể dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh.

Dịch Covid-19 đã trở thành cú hích thúc đẩy tăng tốc quá trình chuyển đổi số. Các khảo sát cho thấy các doanh nghiệp đang từng bước đầu tư vào công nghệ số bao gồm cả robot, trí tuệ nhân tạo (AI) kết hợp với máy học và các giải pháp phân tích dự báo để tăng sức cạnh tranh. Các chuyên gia cho rằng, nếu doanh nghiệp muốn cung cấp những thông tin phân tích chi tiết để nhân viên kinh doanh có thể hành động theo thời gian thực, cần phải ưu tiên áp dụng những công nghệ này trong năm 2021.

Nhĩ Anh

Nguồn: https://vneconomy.vn/nen-tang-cong-nghe-nao-se-ho-tro-doanh-nghiep-vuot-qua-dai-dich-covid-20210316105814869.htm

CHUYỂN ĐỔI SỐ: CHÚ TRỌNG ĐẦU TƯ CÔNG HẠ TẦNG CÔNG NGHỆ

Chuyển đổi số được cho là một cơ hội có thể góp phần giúp Việt Nam nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia… Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi và số hóa nền kinh tế, đang đặt ra không ít thách thức, cần có những quyết sách kịp thời, phù hợp, trong đó cần chú trọng hơn tới đầu tư công vào hạ tầng công nghệ, viễn thông…

Chuyển đổi số trong nền kinh tế đã khẳng định thêm một lần nữa về vai trò, tính tất yếu và tầm quan trọng khi đại dịch Covid-19 đã làm đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu, dịch chuyển các dòng đầu tư do hạn chế đi lại và giao thương trực tiếp.

Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn dân số vàng, tỷ lệ dân trong độ tuổi lao động cao, lớp trẻ ngày càng năng động, có khả năng tiếp thu nhanh kiến thức và kỹ năng mới, bao gồm kiến thức và kỹ năng công nghệ số. Chỉ số về phát triển và chất lượng giáo dục tại Việt Nam, trong những năm gần đây luôn được đánh giá rất cao. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế cao trong vài thập niên lại đây đã góp phần quan trọng cải thiện thu nhập xã hội, tăng tiêu dùng, gia tăng đáng kể tầng lớp người trung lưu có thu nhập khá, thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao ngày càng được mở rộng.

Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam cũng đã và đang được cải thiện mạnh. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2020 đã xếp hạng Việt Nam đứng vị trí thứ 42, dẫn đầu trong số các quốc gia có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Tốc độ đổi mới công nghệ nhanh chóng, công nghệ truyền thông di động với mạng 4G đã phủ sóng hơn 95% hộ gia đình và đang phát triển mạng 5G. Phạm vi phủ sóng không dây rộng rãi, với số lượng người tiêu dùng sử dụng điện thoại di động cao đều có thể tiếp cận và khai thác được cơ hội từ nền kinh tế số. Đến nay, tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều ngành mũi nhọn có quan đến kinh tế số, kỹ thuật số như thương mại điện tử, fintech, kinh tế chia sẻ… Đó là những nền tảng rất có giá trị, tạo ra động lực cho quá trình tiếp cận và đẩy nhanh chuyển đổi số, phát triển nền kinh tế số, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng… thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Chuyển đổi số: Chú trọng đầu tư công hạ tầng công nghệ

Tuy nhiên, nghiên cứu, đánh giá về cơ hội chuyển đổi số của Việt Nam hiện nay, PGS.TS Tô Trung Thành – Trưởng phòng khoa học, Trường đại học Kinh tế quốc dân – nhận định: Quá trình tiếp cận chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số đang đặt ra không ít thách thức. Bởi chất lượng nguồn nhân lực, xét tổng thể vẫn còn yếu, hạn chế về kỹ năng ngoại ngữ, khả năng làm việc độc lập và khả năng làm việc nhóm chưa cao. Thực tế cho thấy, cổng thông tin điện tử quốc gia đã được Chính phủ thiết lập, đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính công theo hướng số hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, song bước xuất phát điểm phát triển kinh tế số của Việt Nam thì lại thấp. Điều này đã dẫn đến nhận thức, kiến thức về quản lý nhà nước, nhận thức và hành động từ phía doanh nghiệp cũng như người dân về kinh tế số vẫn còn chưa có tính thống nhất, chậm chạp, không đồng đều. Hành lang pháp lý, thể chế chính sách cho công cuộc chuyển đổi số vẫn còn nhiều bất cập…

Những vấn đề nêu trên đang trở thành rào cản rất lớn đối với quá trình chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số của Việt Nam. Xếp hạng của Cisco là một minh chứng đã cho thấy, mức độ sẵn sàng số hóa của Việt Nam còn thấp, mới chỉ đứng thứ 70/141 quốc gia được xếp hạng, so với khu vực còn thấp hơn Singapore, Malaysia, Thái Lan…

PGS.TS Tô Trung Thành cho rằng, Chính phủ cần có khung chiến lược để định hướng và tạo hành lang pháp lý, thể chế thuận lợi hơn cho việc chuyển đổi số. Mục tiêu hướng tới là chuyển đổi số và số hóa đồng bộ ở tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Muốn làm tốt được việc này, cần phải bắt đầu từ hoạt động quản trị Nhà nước.

Cần có một hạ tầng số và dịch vụ số bao quát mọi ngõ ngách của nền kinh tế và đến từng người dân. Muốn vậy, phải có nguồn lực đầu tư rất lớn và chất lượng nguồn nhân lực cao. Trong khi, chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì không thể giải quyết, mà phải có cơ chế, chính sách thích hợp động viên, huy động hiệu quả các nguồn lực từ xã hội, từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài (FDI), thông qua tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng và minh bạch.

Trong dài hạn, PGS.TS Tô Trung Thành cho rằng, công cuộc chuyển đổi số phải xuất phát từ sự đổi mới giáo dục – đào tạo, thay đổi cách thức quản lý giáo dục, phương pháp giảng dạy, giáo trình dạy và cả những môn học mới theo hướng gắn chặt với công nghệ và số hóa. Kỹ năng số cần được giới thiệu tới cấp mầm non và nâng dần mức độ tiếp cận cho các cấp độ học cao hơn.

Cần có các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng đủ sức hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư mạnh vào khoa học công nghệ, đổi mới, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, cải tiến kỹ thuật và công nghệ; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và đội ngũ doanh nhân. Đặc biệt, Chính phủ cần tạo dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật số đủ mạnh để các doanh nghiệp kết nối, nắm bắt xu thế và khai thác hiệu quả thế mạnh của kinh tế số, thông qua việc tăng cường đầu tư công vào phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, thanh toán điện tử, ngân hàng điện tử… giúp cho các doanh nghiệp cải thiện sự sẵn sàng bước vào kỷ nguyên công nghệ số hóa.

Ngọc Quỳnh

Nguồn: https://congthuong.vn/chuyen-doi-so-chu-trong-dau-tu-cong-ha-tang-cong-nghe-151193.html

ĐẨY MẠNH ÁP DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT CỦA VIỆT NAM

Universal Robots (UR), doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong lĩnh vực công nghệ robot cộng tác (cobots) có trụ sở tại Đan Mạch, hiện đang kêu gọi các nhà sản xuất trong nước đẩy mạnh việc áp dụng tự động hóa rô bốt nhằm gia tăng năng suất, đồng thời, giảm thiểu nguy cơ tai nạn lao động.

Hầu hết các nhà sản xuất trong nước hiện đang phải đối mặt với tình trạng ngày càng thiếu nguồn nhân lực có kỹ năng, từ đó, làm giảm năng suất và kìm hãm sự tăng trưởng chung của các doanh nghiệp. Trong khi đó, người sử dụng lao động còn phải chịu những chi phí lớn trong việc xử lý những vấn đề liên quan đến tai nạn lao động.

Công nghệ tự động hóa có thể giúp tăng năng suất và giảm tới 72% những nguyên nhân tai nạn
Công nghệ tự động hóa có thể giúp tăng năng suất và giảm thiểu tai nạn lao động

Ông James McKew – Giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Universal Robots cho biết: Cobots có thể thực hiện các tác vụ nguy hiểm hoặc có khả năng gây tổn thương cho con người. Các robot này được tích hợp sẵn các tính năng an toàn. Ví dụ, cánh tay robot sẽ hoạt động chậm lại khi có con người tiến vào khu vực mà robot đang làm việc. Cobots có thể thực hiện những công việc lặp đi lặp lại và có tính nguy hiểm trong sản xuất, giúp người lao động tránh được các chấn thương khi làm việc.

Hệ thống an toàn với độ tùy chỉnh cao của Universal Robots cho phép các công ty điều chỉnh các thông số khác nhau để giảm thiểu những rủi ro khi triển khai việc sử dụng robot công nghiệp. Một số tính năng an toàn có thể kể đến như giới hạn tốc độ, sức mạnh hoặc cử động của cobot, cũng như hạn chế không gian làm việc của cobots bằng cách xác định ranh giới an toàn. Việc gia tăng năng suất làm việc cùng với thiết kế an toàn của các giải pháp cobots giúp công nghệ tự động hóa mới này giảm tới 72% các nguyên nhân gây ra thương tích thường gặp trong môi trường sản xuất.

Khi chúng ta tiến gần hơn đến tầm nhìn công nghiệp 5.0 – nơi con người và máy móc làm việc cùng nhau bên trong những nhà máy thông minh, việc xem xét những yêu cầu và quy định cần thiết về an toàn trong môi trường làm việc mới sẽ ngày càng trở nên quan trọng. “Tôi tin tưởng rằng một lực lượng lao động mới sẽ ra đời, với con người và robot giúp đỡ lẫn nhau để cùng thực hiện vai trò của mình, cùng mang lại những cơ hội lớn để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới, đảm bảo sự an toàn và hài lòng với công việc tại nơi làm việc” – ông James McKew cho hay.

Ông McKew đã chỉ ra rằng, các công ty có thể đạt được lợi tức đầu tư (ROI) nhanh hơn bằng cách sử dụng cobots để tiết kiệm thời gian của người lao động, giúp họ thực hiện những quy trình có năng suất cao hơn, và hơn hết là học được những kỹ năng mới. Không giống như các robot truyền thống chỉ có thể được lập trình bởi những cá nhân có trình độ kỹ sư, cobots được thiết kế nhằm đơn giản hóa việc lập trình thông qua giao diện người-máy (HMI), một tính năng đã quá đỗi quen thuộc với bất kỳ ai sử dụng điện thoại thông minh.

Đối với các ứng dụng phức tạp hơn, Universal Robots có một mạng lưới toàn diện gồm các nhà tích hợp hệ thống được chứng nhận và trung tâm đào tạo được ủy quyền, sẵn sàng hỗ trợ người dùng trong việc vận hành thường nhật sau khi cài đặt hệ thống. Các tính năng và giao diện này khiến việc nghiên cứu chuyên sâu về ngành lập trình hoặc rô bốt học không còn quá cần thiết, đồng thời lượng kỹ năng và kiến thức cần thiết để sử dụng cobots cũng được giảm tối đa.

Universal Robots khuyến khích các nhà sản xuất trong nước áp dụng sự kết hợp hoàn hảo giữa con người và máy móc. Với cobots, các nhà sản xuất tại Việt Nam không còn cần phải lo ngại về những tác động tiêu cực của việc thiếu hụt lao động có trình độ. Sự hợp tác giữa robot và con người giúp giảm đáng kể thời gian, công sức và chi phí liên quan khi chỉ cần sử dụng cùng một cobot cho các tác vụ khác nhau vì cobots có thể linh hoạt thay đổi công việc và đem lại lợi tức đầu tư nhanh hơn đáng kể.

Quỳnh Nga

Nguồn: https://congthuong.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-nganh-cong-thuong-hinh-thanh-he-thong-san-xuat-quan-ly-thong-minh-152780.html

VỐN FDI VÀO VIỆT NAM NĂM 2021 TĂNG MẠNH

Ngay từ những ngày đầu năm 2021, hàng loạt dự án FDI lớn được trao giấy chứng nhận đầu tư. Các chuyên gia nhận định, năm 2021, dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ tăng mạnh.

Bộ KH&ĐT tổ chức nhiều cuộc xúc tiến đầu tư thông qua hình thức trực tuyến với các đối tác châu Âu, châu Á (Nhật Bản, Singapore).Thông qua cuộc tiếp xúc đầu tư, nhiều tập đoàn lớn như Apple, Foxconn, Luxshare triển khai kế hoạch gia tăng đặt hàng nhà cung ứng và gia tăng hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) cho thấy, trong tháng 1/2021, tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 2,02 tỷ USD. Trong đó, vốn thực hiện đạt 1,51 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Cả nước đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 47 dự án mới, điều chỉnh tăng vốn cho 46 lượt dự án và cấp phép cho gần 200 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Với thành tích trong kiểm soát, khống chế dịch bệnh, ngay những ngày đầu năm 2021, các địa  phương đã đồng loạt trao giấy chứng nhận đầu tư cho nhiều dự án FDI lớn. Ngày 18/1, UBND tỉnh Bắc Giang trao giấy chứng nhận đầu tư dự án Nhà máy Fukang Technology ở Khu công nghiệp Quang Châu (Việt Yên, Bắc Giang) cho Tập đoàn Foxconn Singapore Pte Ltd. Theo kế hoạch, Fukang sẽ sản xuất, gia công máy tính bảng và máy tính xách tay, với quy mô hơn 8 triệu sản phẩm/năm. Với tổng vốn đầu tư 270 triệu USD, dự kiến dự án sẽ hoạt động vào quý 3/2022. Đây là một trong những bước mở rộng hoạt động tại Việt Nam của Tập đoàn Foxconn. Đến cuối năm 2020, Foxconn đã đầu tư tại Việt Nam 1,5 tỷ USD.

Cũng ngay trong tháng 1/2021, tỉnh Quảng Bình trao quyết định chủ trương đầu tư 14 dự án với tổng vốn khoảng 1 tỷ USD và ký biên bản ghi nhớ hợp tác 23 dự án cho 18 nhà đầu tư. Tỉnh Nghệ An trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Công ty TNHH Công nghệ EverwinPrecision Việt Nam. Dự án có tổng mức đầu tư 200 triệu USD, tại Khu Công nghiệp đô thị và Dịchvụ VSIP Nghệ An, dự kiến sẽ thu hút 15.000 lao động. Tỉnh Đồng Nai thu hút được 11 dự án FDI, trong đó có 3 dự án cấp mới, 8 dự án tăng vốn với tổng số vốn hơn 226 triệu USD. Đây là con số cao nhất so với cùng kỳ khoảng 5 năm qua.

Với kết quả khởi sắc ngay từ những ngày đầu năm, các chuyên gia cho rằng, tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2021 sẽ cao hơn mức 28,5 tỷ USD (vốn đăng ký) và 19,9 tỷ USD (vốn thực hiện) như mục tiêu đã đề ra.

CÁC ‘ÔNG LỚN’ CÔNG NGHỆ ĐANG DỊCH CHUYỂN CHUỖI CUNG ỨNG VỀ VIỆT NAM

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ổn định đổ vào lĩnh vực sản xuất công nghệ giúp Việt Nam giành được thị phần đáng kể trong xuất khẩu điện thoại và chip xử lý, đồng thời gia tăng mối quan tâm của các đại gia công nghệ.

Các ông lớn công nghệ đang dịch chuyển chuỗi cung ứng về Việt Nam - Ảnh 1.
Việt Nam đang hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế – Ảnh: N.BÌNH

Theo nhận định báo cáo “Vietnam at a glance” vừa được HSBC công bố, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI ở ngành công nghệ đã giúp Việt Nam trỗi dậy mạnh mẽ hơn trong dịch, thu hút sự quan tâm của nhiều ông lớn trong ngành công nghệ thế giới.

Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư), kết thúc tháng đầu tiên của năm 2021, vốn đăng ký mới doanh nghiệp FDI của cả nước đạt trên 1,3 tỉ USD, thông qua 47 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Nếu tính cả vốn điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, nhà đầu tư ngoại đã rót vào hơn 2,02 tỉ USD.

Đáng chú ý, vốn thực hiện của dự án FDI ước đạt 1,51 tỉ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ 2020.

Mới đây, Intel công bố khoản đầu tư thêm 475 triệu USD để sản xuất các sản phẩm 5G và bộ xử lý cốt lõi. Việc mở rộng đưa xuất khẩu bộ vi xử lý của Việt Nam tăng gấp ba lần thị phần trong năm 2019.

Các chuyên gia HSBC cho biết năm qua, xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam phát triển khá tốt. Nhờ vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ổn định đổ vào lĩnh vực sản xuất công nghệ, Việt Nam đã thành công trong việc chuyển đổi sang nền sản xuất công nghệ chủ chốt, giành được thị phần đáng kể trong xuất khẩu điện thoại và chip xử lý.

Đặc biệt, việc chuyển hướng chuỗi cung ứng đã làm gia tăng mối quan tâm của các đại gia công nghệ tại Việt Nam.

Xu hướng gia tăng trong thương mại Mỹ – Trung căng thẳng có lợi cho Việt Nam không chỉ về thương mại bùng nổ mà còn cả FDI chuyển hướng.

Việt Nam cũng đang nổi lên như một nhà cung cấp chip xử lý, điều khiển dù loại do Việt Nam lắp ráp là loại chip có giá trị tương đối thấp. Trong khi Trung Quốc sản xuất 70% máy tính trên toàn cầu thì Việt Nam đang vươn lên sản xuất máy tính thành phẩm, hỗ trợ nhu cầu sử dụng chip.

Việt Nam đã chứng tỏ khả năng leo lên chuỗi giá trị cao hơn, phát triển thành một trung tâm sản xuất các sản phẩm công nghệ sau hai thập kỷ.

Báo cáo nhận định mặc dù quá trình này có phần bị gián đoạn do đại dịch, nhưng FDI vào công nghệ vẫn đang diễn ra tích cực, đặc biệt là các dự án liên quan đến Hãng Apple. Hãng công nghệ này đã sản xuất AirPods ở Việt Nam từ tháng 5-2020 và được cho là sẽ bắt đầu sản xuất iPad sớm nhất vào giữa năm 2021.

Đến nay, hai nhà cung cấp Apple Đài Loan, Pegatron và Foxconn, đều đã công bố kế hoạch đầu tư khổng lồ để tăng cường năng lực sản xuất của họ tại Việt Nam. Ngoài ra, hai nhà lắp ráp Apple của Trung Quốc đại lục, Luxshare và Goertek, có tăng tuyển dụng và bắt đầu xây dựng cơ sở sản xuất mới từ cuối năm 2020.

Tham vọng là trung tâm sản xuất các sản phẩm công nghệ, không chỉ là cấp thấp, đang mở rộng nhưng để nắm bắt các cơ hội sắp tới, Việt Nam còn nhiều việc phải làm.

“Để nắm bắt tốt hơn các cơ hội trong tương lai vẫn là một nhiệm vụ ưu tiên của các nhà hoạch định chính sách nếu Việt Nam muốn tiến lên chuỗi giá trị cao hơn. Trước tiên, cần cải thiện năng suất lao động thông qua việc giáo dục tốt hơn và đào tạo nghề nghiệp được thiết kế phù hợp hơn.

Trong khi đó, việc thúc đẩy cơ sở hạ tầng đang diễn ra sẽ thúc đẩy khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Trong năm 2021, Nhà nước cần hỗ trợ các chính sách tài khóa có mục tiêu hơn cho các lĩnh vực dễ bị tổn thương và người lao động”, chuyên gia HSBC nhận định.

N.BÌNH

Nguồn: https://congnghe.tuoitre.vn/cac-ong-lon-cong-nghe-dang-dich-chuyen-chuoi-cung-ung-ve-viet-nam-20210217192047287.htm?fbclid=IwAR0xV8YdvGewVGhl-CkK3UJ8wiYEdpT4bsz0gPrIRVXo1-wh_c0db0GiEYA

THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT HÀNG HÓA TIẾN TỚI SẢN XUẤT THÔNG MINH

Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển nhận định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa tiến tới sản xuất thông minh làm thay đổi hoàn toàn ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa.

Ban Kinh tế Trung ương vừa cùng với Tập đoàn IEC và Tập đoàn Hewlett-Packard Enterprise (HPE) phối hợp tổ chức Hội nghị Bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh với chủ đề “Đón đầu làn sóng đầu tư và phát triển nhà máy thông minh trong bối cảnh bình thường mới”.

Hội nghị do ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương chủ trì và được triển khai trực tuyến tới 20 điểm cầu với sự tham dự của trên 50 đại biểu đại diện Văn phòng Chính phủ và các bộ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Khoa học và công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng và lãnh đạo 20 doanh nghiệp đầu ngành ở Việt Nam trên các lĩnh vực như dệt may, khoáng sản, năng lượng, ô tô, thực phẩm, điện tử, tiêu dùng, công nghệ,… Ông Hà Minh Hiệp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã tham gia điều phối phần trao đổi của Hội nghị.

Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương chủ trì Hội nghị.

Đây là Hội nghị khởi động trong chuỗi các hội nghị, tọa đàm, diễn đàn cấp cao do Ban Kinh tế Trung ương chủ trì để triển khai sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 về “Định hướng xây dựng chính sách công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và 2 năm triển khai Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Phát biểu khai mạc và đề dẫn Hội nghị, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển nhận định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa tiến tới sản xuất thông minh làm thay đổi hoàn toàn ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa.

Sản xuất thông minh với nền tảng dựa trên sự tích hợp máy móc thông minh và robot thế hệ mới, kết nối vạn vật công nghiệp IIoT và các phần mềm, hệ thống tích hợp đang trở thành một xu thế tất yếu. Nhân tố cốt lõi của sản xuất thông minh là nhà máy thông minh, là hệ thống sản xuất tự động hóa được kết nối và xử lý dữ liệu liên tục từ hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính tự học và thích nghi (nhà máy sản xuất đáp ứng, thích nghi và kết nối).

Ông Hà Minh Hiệp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phát biểu tại Hội nghị.

Sản xuất thông minh với nhân tố cốt lõi nhà máy thông minh đang trở thành động lực phát triển mới của thế giới, các quốc gia đang đẩy nhanh phát triển sản xuất thông minh. Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển cũng đã phân tích, làm rõ các chủ trương của Đảng về phát triển sản xuất thông minh, trong đó có nhà máy thông minh nêu tại Nghị quyết 23 và Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á, ông Nguyễn Đức Hiển đề nghị các chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp tập trung trao đổi 4 nhóm vấn đề trọng tâm: (1) Nhận diện tiềm năng, cơ hội đầu tư phát triển sản xuất thông minh (nhà máy thông minh, nhà máy số, ứng dụng công nghệ thông minh vào sản xuất kinh doanh), nhất là lĩnh vực sản xuất chế tạo tại Việt Nam; (2) Nhận diện khó khăn, thách thức đối với doanh nghiệp ngành sản xuất trong quá trình chuyển đổi số tiến tới sản xuất thông minh (quy trình sản xuất, xây dựng nhà máy thông minh, nhân lực, công nghệ…) và vấn đề quản trị rủi ro khi hầu hết các khâu của quá trình sản xuất đều được tự động hóa…; (3) Trao đổi các mô hình, kinh nghiệm điển hình về triển khai sản xuất thông minh, nhà máy thông minh; (4) Các vấn đề về thể chế, chính sách cũng cần được tháo gỡ để để thúc đẩy sản xuất thông minh, nhà máy thông minh tại Việt Nam.

Quang cảnh Hội nghị.       

Tại Hội nghị, ông Tariq Shallwani, Giám đốc Kinh doanh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của HPE đã có báo cáo chính trao đổi về kinh nghiệm quốc tế trong chuyển đổi số ngành sản xuất. Sau đó, đã có 15 đại biểu đại diện các bộ, ngành Trung ương và doanh nghiệp tham gia trao đổi xung quanh 4 nhóm vấn đề được Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển gợi ý.

Kết luận Hội nghị, ông Nguyễn Đức Hiển đã giao Vụ Công nghiệp, Ban Kinh tế Trung ương tổng hợp, chắt lọc các ý kiến tại Hội nghị để phục vụ xây dựng đề cương, kế hoạch và triển khai xây dựng báo cáo sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23 và Nghị quyết 52.

Bảo Lâm

Nguồn: http://vietq.vn/thuc-day-qua-trinh-san-xuat-hang-hoa-tien-toi-san-xuat-thong-minh-d183319.html

4 LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Danh mục công nghệ ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cụ thể, Danh mục công nghệ ưu tiên của từng lĩnh vực như sau:Theo đó, 4 lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 gồm: 1- Công nghệ số; 2- Vật lý; 3- Công nghệ sinh học; 4- Năng lượng và môi trường.

Lĩnh vực công nghệ số: Trí tuệ nhân tạo; internet vạn vật; công nghệ phân tích dữ liệu lớn; công nghệ chuỗi khối; điện toán đám mây, điện toán lưới, điện toán biên; điện toán lượng tử; công nghệ mạng thế hệ sau; thực tại ảo, thực tại tăng cường, thực tại trộn; công nghệ an ninh mạng thông minh, tự khắc phục và thích ứng; bản sao số; công nghệ mô phỏng nhà máy sản xuất; nông nghiệp chính xác.

Lĩnh vực vật lý: Robot tự hành, robot cộng tác, phương tiện bay không người lái, phương tiện tự hành dưới nước; in 3D tiên tiến; công nghệ chế tạo vật liệu nano, thiết bị nano; công nghệ chế tạo vật liệu chức năng; công nghệ thiết kế, chế tạo vệ tinh nhỏ và siêu nhỏ; công nghệ ánh sáng và quang tử.Lĩnh vực công nghệ sinh học: Sinh học tổng hợp; công nghệ thần kinh; tế bào gốc; công nghệ Enzyme; tin sinh học; chip sinh học và cảm biến sinh học; y học tái tạo và kỹ thuật tạo mô; công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới.

Lĩnh vực năng lượng và môi trường: Công nghệ chế tạo pin nhiên liệu; công nghệ tổng hợp nhiên liệu sinh học tiên tiến; năng lượng Hydrogen; quang điện; công nghệ lưu trữ năng lượng tiên tiến; công nghệ tiên tiến trong thăm dò, thu hồi dầu và khí; thu thập và lưu trữ các bon; năng lượng vi mô; công nghệ tua bin gió tiên tiến; công nghệ năng lượng địa nhiệt, năng lượng đại dương và năng lượng sóng; lưới diện thông minh.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức liên quan căn cứ Quyết định này và các quy định khác của pháp luật liên quan để định hướng, ưu tiên bố trí nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.

Chí Kiên

Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/4-linh-vuc-Cong-nghe-uu-tien-nghien-cuu-phat-trien/417384.vgp

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGÀNH SẢN XUẤT: NHỮNG THÁCH THỨC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã “giáng đòn chí tử” vào nền kinh tế, đẩy lùi đà phát triển của đa số ngành công nghiệp. Cú sốc này đã làm biến mất hàng triệu doanh nghiệp trên toàn thế giới. Nhưng ở một khía cạnh tích cực khác, sự khốc liệt này lại thay đổi việc vận hành kinh tế cũng như dịch chuyển đầu tư giữa các quốc gia.

Các tập đoàn lớn trên thế giới đưa ra kế hoạch dịch chuyển đầu tư sản xuất từ các quốc gia có nguy cơ dịch bệnh cao sang các nước có môi trường đầu tư an toàn hơn. Việt Nam hiện đang là điểm đến sáng giá trong các bản kế hoạch như vậy. Nhưng làm thế nào để thắng được trên trường quốc tế? Đó không chỉ là bài toán của môi trường đầu tư an toàn mà còn là vấn đề nội lực doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030″ với tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. Điều này đánh thức các doanh nghiệp trong các lĩnh vực từ tài chính ngân hàng, đến y tế, giáo dục và tất nhiên không thể thiếu các doanh nghiệp sản xuất – nền tảng của mọi nền công nghiệp.

Tuy nhiên, một thực tế dễ thấy, dù đồng lòng với mục tiêu xây dựng doanh nghiệp số Việt Nam đủ năng lực đi ra toàn cầu, không ít doanh nghiệp sản xuất không biết bắt đầu từ đâu.

Có thể thấy những thách thức mà các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang phải đối mặt, khi mà công nghệ đang thay đổi mỗi ngày, và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trước tiên, phải kể đến bài toán chi phí. Khi quyết định chuyển đổi số, doanh nghiệp chấp nhận thay đổi quy trình, hệ thống, và cả con người. Điều này đòi hỏi một ngân sách đủ lớn để làm đồng bộ, toàn diện, không chắp vá. Khi chưa nhìn thấy một kết quả rõ ràng, việc đầu tư một ngân sách lớn cho hệ thống khiến chủ doanh nghiệp không khỏi lo lắng.

Tiếp theo là những thách thức về thay đổi tư duy ngay trong doanh nghiệp. Chuyển đổi số không phải là câu chuyện riêng của công nghệ mà là bài toán khó của chính con người, những người làm chủ và vận hành doanh nghiệp. Cho dù sở hữu một hệ thống tiên tiến, hiện đại, nhưng tư duy lối mòn lại trở thành rào cản khiến công nghệ không được khai thác và ứng dụng hiệu quả. Bởi vậy, không ngừng học hỏi là không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn vượt qua rào cản về tư duy.

Cuối cùng, lựa chọn công nghệ phù hợp với doanh nghiệp của mình chính là thách thức lớn thứ ba mà doanh nghiệp phải đối mặt. Những câu chuyện về công nghệ mới cho ngành sản xuất như AI, machine learning, IoT hay Cloud đang tràn ngập trên mặt báo. Nhưng chính giải pháp chuyên sâu, cải tiến liên tục và sự lựa chọn từ quá nhiều nhà cung cấp lại khiến chủ doanh nghiệp phải băn khoăn. Làm thế nào để có giải pháp phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình?

Có thể nói, đây chính là những rào cản lớn nhất khiến các nhà máy sản xuất tại Việt Nam loay hoay tìm cách cải tiến và chuyển đổi.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 1.

Trong hội nghị bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh ngày 28.01, chuyên gia của Hewlett Packard Enterprise đã chia sẻ với các cơ quan bộ ban ngành và lãnh đạo cấp cao tới từ các tập đoàn lớn: “Trước khi vội vàng tìm cách đi trước, dẫn đầu, doanh nghiệp cần phải giải quyết những vấn đề đang tồn tại, từ đó xây dựng giải pháp tối ưu căn cứ vào đặc thù riêng của mình”.

Cụ thể, doanh nghiệp cần có chiến lược chuyển đổi rõ ràng. Điều này có nghĩa là gì? Hãy vạch ra kế hoạch chi tiết cho hành trình chuyển đổi số trong nhà máy sản xuất của mình. Nó sẽ diễn ra trong bao lâu, qua những giai đoạn nào và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp là gì? Hãy lượng hóa mọi tiêu chí, để có một thước đo rõ ràng nhất, thay vì chìm đắm trong viễn cảnh mơ hồ.

Khi đã vẽ được bức tranh tổng thể về hành trình mình sẽ đi, hãy vạch ra phương án tiếp cận theo từng giai đoạn. Căn cứ vào đặc điểm đặc thù của chính doanh nghiệp mình để chia nhỏ các giai đoạn chuyển đổi cho phù hợp. Việc này giúp nhân lực trong nhà máy dễ dàng nhận biết và thích nghi hơn, doanh nghiệp không phải chịu áp lực quá lớn về chi phí ngay từ đầu.

Thu nạp nhân tài trong lĩnh vực CNTT là một yếu tố quan trọng quyết định thành công chuyển đổi số. Bởi lẽ rõ ràng, một hệ thống hiện đại đòi hỏi vận hành bởi những bộ óc đủ thông minh. Một hệ thống sản xuất tự động hóa đòi hỏi một hạ tầng IT đủ mạnh mẽ.

Những công nghệ tiên tiến nhất trong ngành sản xuất, sẽ giúp doanh nghiệp tăng tốc trong hành trình chuyển đổi, tạo năng lực cạnh tranh vượt trội. Ngày nay, data là nguồn sống của doanh nghiệp, vì vậy hãy tận dụng và khai thác tối đa. Thay thế việc bảo trì hệ thống thủ công, theo thời gian định trước bằng việc cập nhật và sửa lỗi tự động, xác định vấn đề trước khi nó xảy ra với công nghệ IoT và deep machine learning.

Chuyển đổi số không phải câu chuyện của riêng quốc gia, ngành nghề hay doanh nghiệp nào. Bản thân HPE trong những năm vừa qua cũng đang không ngừng cải tiến, phát triển, và thử nghiệm để sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI và IoT. Khi đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất như Daido, Seagate hay Leica,…HPE đã xây dựng những giải pháp IT riêng để giải quyết những vấn đề đặc thù mà từng doanh nghiệp đang gặp phải.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 2.

Seagate kết hợp CNTT và OT với hệ thống HPE Apollo, hệ thống hội tụ Edgeline và dịch vụ AI từ HPE Pointnext Services để thúc đẩy việc ra quyết định và đem lại hiệu quả tốt nhất cho chất lượng sản phẩm và hiệu quả quy trình. Trong khi đó, Leica lại cần đến hệ thống máy chủ HPE Moonshot, Moonshot Cartridges và ứng dụng ảo hóa Citrix để quản trị cơ sở hạ tầng tập trung và đơn giản trong trung tâm dữ liệu giúp giảm chi phí một cách lâu bền.

Như vậy, căn cứ vào vấn đề và mục tiêu của từng doanh nghiệp, sẽ có những giải pháp phù hợp khác nhau trên hành trình chuyển đổi số. Mọi vấn đề đều có lời giải đáp, chỉ cần hỏi đúng người. Vượt qua thách thức chính là lúc để lại đối thủ của mình ở phía sau. Bắt đầu hành trình chuyển đổi số ngay hôm nay!

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất của HPE tại Website: manufacturingdx.com

Ánh Dương (theo Nhịp sống kinh tế)

Nguồn: https://cafef.vn/chuyen-doi-so-trong-nganh-san-xuat-nhung-thach-thuc-cho-doanh-nghiep-viet-nam-2021013018420568.chn

DOANH NGHIỆP ĐỐI MẶT VỚI NHIỀU THÁCH THỨC AN TOÀN THÔNG TIN KHI LÀM VIỆC TỪ XA

Những thách thức an toàn thông tin ngày càng gia tăng khiến an ninh mạng trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

Các mối đe dọa an toàn thông tin gia tăng

Làm việc từ xa đã trở thành xu hướng tất yếu kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát. Những thách thức và bất ổn đã buộc các doanh nghiệp trên toàn cầu phải lựa chọn phương thức làm việc từ xa trong bối cảnh mới.

Theo kết quả nghiên cứu của một hãng thiết bị mạng toàn cầu với chủ đề “Tương lai làm việc từ xa an toàn” tại khu vực Châu Á –  Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi dịch Covid -19 bùng phát, 56% số doanh nghiệp trong khu vực có trên một nửa lực lượng lao động làm việc từ xa. Tại Việt Nam, tỷ lệ này đạt 51%, tăng mạnh so với con số 20% trước đại dịch.

Theo nghiên cứu, các doanh nghiệp tại Việt Nam chưa chuẩn bị kỹ cho quá trình chuyển đổi đột ngột sang làm việc từ xa một cách an toàn khi đại dịch bùng phát. Số liệu từ nghiên cứu cho thấy, 54% các doanh nghiệp tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã có sự chuẩn bị cho việc hỗ trợ làm từ xa. Trong khi đó, con số tương ứng ở thị trường Việt Nam chỉ là 30%.

Các doanh nghiệp cho biết mối đe dọa, cảnh báo an ninh mạng gia tăng đáng kể do các tác nhân độc hại cố gắng lợi dụng lỗ hổng bảo mật tiềm ẩn khi nhân viên truy cập vào hệ thống mạng doanh nghiệp và các ứng dụng đám mây từ xa.

Theo đó, khoảng 69% doanh nghiệp tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nhận thấy các mối đe dọa, cảnh báo bảo mật tăng trên 25%. Còn tại Việt Nam, từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, 91% doanh nghiệp chứng kiến số lượng mối đe dọa, cảnh báo bảo mật tăng trên 25%.

Những thách thức an ninh mạng lớn nhất mà các doanh nghiệp Việt phải đối mặt có thể kể đến là phần mềm độc hại, truy cập an toàn và quyền riêng tư dữ liệu…

Các chuyên gia cũng cho biết, bảo mật điểm cuối đặt ra thách thức cho các tổ chức, doanh nghiệp. Số liệu tại Việt Nam cho thấy 65% doanh nghiệp cho rằng thiết bị cá nhân đặt ra thách thức cần bảo vệ trong môi trường làm việc từ xa. Tiếp theo là thông tin khách hàng (61%), máy tính xách tay hoặc máy tính để bàn tại văn phòng (60%) và các ứng dụng đám mây (59%).

Doanh nghiệp ưu tiên cho an ninh mạng

Các tổ chức, doanh nghiệp phải đối mặt với những mối đe dọa và cảnh báo an ninh mạng đang ngày càng gia tăng do thách thức trong quá trình chuyển đổi môi trường làm việc. Điều này khiến an ninh mạng trở thành ưu tiên hàng đầu và có mức độ quan trọng hơn so với trước khi đại dịch bùng phát.

Khảo sát cho thấy, có tới 93% doanh nghiệp Việt Nam đánh giá rằng an ninh mạng là ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh hiện nay, trong khi con số trung bình của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là 85%.

Nhận thức về an ninh mạng thay đổi cũng khiến các doanh nghiệp trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng có thay đổi đáng kể trong hành động. Các doanh nghiệp nhận định, dịch Covid-19 dẫn đến sự gia tăng đầu tư vào an ninh mạng trong tương lai.

Các chuyên gia cho hay, các tổ chức, doanh nghiệp đang xem xét lại chiến lược an ninh mạng với trọng tâm là thế trận phòng thủ an ninh mạng tổng thể. Đây là khoản đầu tư được ưu tiên hàng đầu về tầm quan trọng trong việc chuẩn bị môi trường làm việc sau dịch Covid-19.

Một số khoản đầu tư ưu tiên khác được các tổ chức, doanh nghiệp tham gia khảo sát đề cập đến bao gồm: truy cập mạng, bảo mật đám mây, xác minh người dùng và thiết bị.

Duy Vũ

Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/bao-mat/doanh-nghiep-uu-tien-dau-tu-cho-an-toan-thong-tin-sau-dai-dich-275548.html

Đăng ký nhận thông tin