NHẬT BẢN MUỐN HỢP TÁC VỚI VIỆT NAM VỀ LĨNH VỰC IOT, 5G, AN NINH MẠNG

Bộ trưởng Nội vụ, Thông tin và Truyền thông Nhật Bản Takaichi Sanae cho biết, bà đặc biệt quan tâm lĩnh vực IoT, 5G và an ninh mạng, do đó mong muốn hai Chính phủ Việt Nam – Nhật Bản tiếp tục hợp tác để có thể sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông an toàn.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Bộ trưởng Nội vụ, Thông tin và Truyền thông Nhật Bản Takaichi Sanae.

Chiều 9/1, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Bộ trưởng Nội vụ, Thông tin và Truyền thông Nhật Bản Takaichi Sanae. Tại buổi tiếp này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, hiện nay quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam-Nhật Bản đang trong giai đoạn phát triển tốt đẹp, toàn diện, sự tin cậy chính trị ngày càng đuợc củng cố. Nhật Bản tiếp tục là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, là nước cung cấp viện trợ ODA lớn nhất, nhà đầu tư thứ hai, đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam.

Thủ tướng cảm ơn và đánh giá cao nguồn viện trợ ODA Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam trong gần 30 năm qua, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết về dự án ODA giữa hai nước. Thủ tướng vui mừng nhận thấy, ngay trong những ngày đầu năm 2020 này, đang có rất nhiều hoạt động hợp tác giữa hai nước được triển khai, hứa hẹn một năm 2020 thật sự sôi động của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản.

Bộ trưởng Takaichi Sanae chia sẻ, Thủ tướng Nhật Bản thường xuyên nhắc chúng tôi rằng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc luôn là người bạn chân tình, đối tác tin cậy của Nhật Bản và cho biết vừa cùng với Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam ký thoả thuận quan trọng về lĩnh vực hợp tác chuyên ngành, mở ra chương mới trong lĩnh vực bưu chính, thông tin và truyền thông. Bà mong muốn Việt Nam tiếp tục sử dụng công nghệ, thiết bị của Nhật Bản để phát triển Chính phủ điện tử.

Trong lĩnh vực 5G, Việt Nam đang thúc đẩy thương mại hoá, trong đó có vấn đề an ninh mạng có vai trò quan trọng, do đó Nhật Bản sẵn sàng hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm vấn đề này. Về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thống kê, Việt Nam sẽ áp dụng hệ thống của Nhật Bản và Nhật Bản sẽ cử chuyên gia sang giúp Việt Nam trong hoạt động này. Về lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy (PCCC), hai bên cần tăng cường hợp tác tích cực; các sản phẩm, thiết bị PCCC của Nhật Bản có uy tín, chất lượng tốt trên thế giới; mong Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn PCCC của Nhật Bản.

Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam đang phát triển Chính phủ điện tử, an ninh mạng… do đó có nhu cầu hợp tác với Nhật Bản rất lớn. Thủ tướng tin tưởng các thỏa thuận hợp tác sẽ hỗ trợ Việt Nam phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực này, là cơ sở quan trọng giúp Việt Nam xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo của Chính phủ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, giúp tiếp nhận thông tin trực tuyến, xử lý nhanh chóng, chính xác và hiệu quả, hướng đến mục tiêu Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số.

Nhằm thúc đẩy Quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng hai nước phát triển hơn nữa trong thời gian tới, Thủ tướng đề nghị Nhật Bản tiếp tục hỗ trợ Chính phủ Việt Nam cải cách, nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử hướng đến chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Tăng cường hợp tác giữa Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam và Bộ Nội vụ, Thông tin và Truyền thông Nhật Bản triển khai hiệu quả các thỏa thuận, dự án đã đạt được trong lĩnh vực quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông.

Tăng cường năng lực cho chuyên gia Việt Nam có thể tham gia nhiều và sâu hơn vào các nhóm nghiên cứu của Nhật Bản và quốc tế về xây dựng chính sách quản lý nhà nước và xây dựng tiêu chuẩn an toàn thông tin, nhất là những lĩnh vực mới như an toàn thông tin cho thành phố thông minh, công nghệ 5G, internet vạn vật (IoT)…

Thúc đẩy các doanh nghiệp Nhật Bản tăng cuờng đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực công nghệ cao như IoT, trí tuệ nhân tạo (AI), cơ sở dữ liệu lớn (Big Data), chuyển đổi số.

Tiếp tục đấy mạnh hợp tác trong lĩnh vực phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng cả về sản xuất thiết bị và khai thác dịch vụ thông qua các hình thức tổ chức các khóa đào tạo, cử chuyên gia, tổ chức hội nghị, hội thảo.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Takaichi Sanae đã chứng kiến Lễ ký Công hàm trao đổi giữa hai Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản về Phi dự án “Cung cấp thiết bị phần cứng của Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ” do và Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng thay mặt Chính phủ hai nước ký.

Cảm ơn các ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Takaichi Sanae cho biết, bà đặc biệt quan tâm lĩnh vực IoT, 5G, an ninh mạng, do đó mong muốn hai Chính phủ tiếp tục hợp tác để có thể sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông an toàn. Bà cho rằng, các doanh nghiệp Nhật Bản có thể đóng góp vào phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam. Bà cũng mong hai nước hợp tác trong lĩnh vực tham vấn hành chính và giải quyết hành chính để bảo vệ quyền lợi hợp pháp công dân Việt Nam sinh sống ở Nhật Bản và công dân Nhật Bản sinh sống ở Việt Nam.

Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Takaichi Sanae đã chứng kiến Lễ ký Công hàm trao đổi giữa hai Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản về Phi dự án “Cung cấp thiết bị phần cứng của Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ” do và Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng thay mặt Chính phủ hai nước ký.

Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/nhat-ban-muon-hop-tac-voi-viet-nam-ve-linh-vuc-iot-5g-an-ninh-mang-39892.html

INTERNET VẠN VẬT TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ với mạng internet, thiết bị thông minh, phần mềm điều khiển… được kết nối với nhau tạo thành hệ thống “internet vạn vật” (tiếng Anh là Internet of things) có thể giải quyết nhanh chóng các nhu cầu của con người.

SỰ THÔNG MINH VÀ TÍNH PHỨC TẠP

Cụm từ “Internet vạn vật” được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1999, bởi Kevin Ashton, nhà khoa học sáng lập Trung tâm Nhận dạng tự động (Auto-ID) thuộc Viện Công nghệ Massachusetts – MIT (Mỹ), nơi nghiên cứu, thiết lập các quy chuẩn toàn cầu cho phương thức giao tiếp không dây dùng sóng radio, cũng như một số loại cảm biến khác. Internet vạn vật là một kịch bản kết nối của thế giới, khi mỗi đồ vật, từng con người được cung cấp một định danh của riêng mình và có khả năng truyền tải, trao đổi thông tin, dữ liệu qua mạng duy nhất mà không cần đến sự tương tác trực tiếp giữa người với người hay người với máy tính. Internet vạn vật được phát triển trên cơ sở hội tụ công nghệ không dây, công nghệ vi cơ điện tử và mạng internet, gồm các đối tượng “thông minh” được điều khiển và tương tác với nhau, cung cấp các dịch vụ và giải pháp mà không cần sự can thiệp của con người. Sự xuất hiện của hệ thống này có thể làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của con người trong tương lai không xa. Khi mọi vật được “internet hóa”, người dùng có thể điều khiển chúng từ bất kỳ nơi nào, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian.

Internet vạn vật có hai đặc điểm nổi bật, đó là sự thông minh và tính phức tạp. Tương lai của internet vạn vật là một mạng lưới các thực thể thông minh có khả năng tự tổ chức và hoạt động riêng lẻ tùy theo tình huống, môi trường; đồng thời, liên lạc được với nhau để trao đổi thông tin, xử lý dữ liệu. Việc kết hợp trí tuệ nhân tạo đã giúp các thiết bị, máy móc, phần mềm thu thập và phân tích các dấu vết điện tử của con người khi chúng ta tương tác với những thứ thông minh, từ đó phát hiện ra tri thức mới liên quan tới cuộc sống, môi trường, các mối tương tác xã hội cũng như hành vi của con người. Đồng thời, các thực thể, máy móc trong hệ thống này sẽ phản hồi dựa trên các sự kiện diễn ra theo thời gian thực. Bên cạnh đó, hệ thống này có tính chất phức tạp bởi bao gồm một lượng lớn các đường liên kết giữa những thiết bị, máy móc, dịch vụ và không ngừng phát triển bởi khả năng thêm vào các nhân tố mới. Một mạng lưới internet vạn vật có thể chứa từ 50 đến 100 nghìn tỷ đối tượng được kết nối và có thể theo dõi sự di chuyển của từng đối tượng.

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN

Theo thống kê của giới chuyên gia công nghệ, trên thế giới hiện có khoảng 11 tỷ thiết bị được kết nối internet và trung bình mỗi giây có thêm 80 thiết bị mới được nối mạng. Tuy nhiên, hiện vẫn còn tới 99% sự vật trong thế giới vật lý chưa được tích hợp internet và con người vẫn đang tiếp tục hành trình “kết nối những gì chưa được kết nối”. Theo dự báo đến năm 2025, có khoảng 50 tỷ đồ vật được kết nối internet, trong đó có hàng tỷ thiết bị di động, hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển vượt trội đối với internet vạn vật, bao gồm những lĩnh vực nổi bật sau:

Quản lý năng lượng thông minh: Đây là một trong những mục tiêu hàng đầu khi phát triển internet vạn vật. Trong cuộc sống, con người sử dụng rất nhiều năng lượng tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn năng lượng này không phải vô hạn và có thể tái tạo. Theo đó, bài toán đặt ra là làm thế nào để tối ưu hóa mức tiêu thụ năng lượng của các thiết bị, và một trong các giải pháp là làm cho các thiết bị đó trở nên thông minh hơn, có khả năng nhận biết môi trường xung quanh, lập lịch và điều khiển từ xa. Các hệ thống chiếu sáng có khả năng cảm nhận được môi trường xung quanh để điều chỉnh thời gian bật, tắt phù hợp. Hệ thống tưới nước thông minh có thể theo dõi diễn biến của thời tiết để thiết lập lịch trình và tự động tưới chính xác lượng nước vào đúng thời điểm thích hợp nhằm tiết kiệm điện, nước…

Giao thông thông minh: Hiện nay, tại các thành phố lớn, vấn đề quản lý, điều hành giao thông trở nên phức tạp bởi mật độ phương tiện tăng cao vào giờ cao điểm, hoặc do thời tiết xấu làm ảnh hưởng tới việc di chuyển của các phương tiện dẫn tới tình trạng ùn tắc đường. Nhờ internet vạn vật, người ta có thể quản lý, điều hành giao thông đơn giản, hiệu quả hơn. Các bộ cảm biến sẽ cho biết tình trạng mặt đường, mật độ phương tiện đang lưu thông và cảnh báo trước khả năng ùn tắc cục bộ để điều chỉnh phân luồng, thời gian cho đèn tín hiệu giao thông. Ngoài ra, xe ô tô tự hành cũng có khả năng theo dõi thời tiết, tình trạng giao thông để tính toán thời gian cũng như xác định tuyến đường để tránh ùn tắc.

Mô hình nhà thông minh. Ảnh: Internet

Nhà thông minh: Đây là một trong những ứng dụng phổ biến nhất của internet vạn vật, khi tất cả thiết bị trong nhà đều có thể được kết nối với nhau và với mạng internet. Qua ứng dụng trên các thiết bị, như: điện thoại thông minh, máy tính… người sử dụng có thể điều khiển, lập lịch, giám sát hoạt động của mọi thiết bị trong nhà. Khi chúng ta về đến nhà, cửa sẽ tự động mở, đèn tự sáng, rèm được kéo ra, tivi sẽ tự bật kênh yêu thích. Các thiết bị thông minh trong nhà cũng có thể tự thay đổi nhiệt độ trong phòng tùy theo cảm ứng nhiệt độ ngoài trời, hoặc theo ý muốn người sử dụng. Chúng ta cũng không phải lo lắng khi ra ngoài mà quên chưa khóa cửa bởi sự ra đời của các loại khóa cửa thông minh, có thể mở hoặc khóa bằng các thiết bị di động.

Thiết bị y tế thông minh: Các trang, thiết bị này có thể giúp các bệnh viện giải quyết các tình huống như hội chẩn các ca mổ phức tạp, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia mổ từ xa. Các thiết bị theo dõi sức khỏe, kiểm soát huyết áp, nhịp tim, đường huyết… hỗ trợ các bác sỹ điều trị, kiểm soát chế độ ăn uống sinh hoạt của người bệnh. Công nghệ theo dõi (tracking) kết hợp với công nghệ nhận dạng (identification) có thể giúp giảm thiểu sai sót trong quá trình khám, chữa bệnh, như: tránh uống hoặc tiêm nhầm thuốc, nhầm liều, điều trị sai phác đồ, theo dõi tình trạng sức khỏe bệnh nhân sau điều trị… Internet vạn vật còn giúp cảnh báo, khoanh vùng dịch bệnh thông qua các cảm biến theo dõi, giám sát thông tin dịch tễ của người bệnh.

Lĩnh vực quốc phòng – an ninh: Internet vạn vật cung cấp khả năng giám sát hệ thống cảnh báo quốc gia, giúp người chỉ huy nhận biết tổng quan về môi trường tác chiến, v.v.. Dựa trên nguyên lý hoạt động của internet vạn vật, hàng loạt vũ khí, trang bị không người lái đã và đang được sản xuất, làm thay đổi diện mạo các cuộc chiến tranh hiện đại. Tuy nhiên, “mặt trái” của internet vạn vật cũng đặt ra một số vấn đề về an ninh – quốc phòng mà các nhà khoa học quân sự đang tập trung giải quyết. Đó là vấn đề kiểm soát, bảo mật thông tin cá nhân, bí mật quân sự; vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao để làm chủ và khai thác hiệu quả các loại vũ khí, trang bị đang ngày càng trở nên “thông minh” hơn, được lập trình và điều khiển từ xa.

Tiềm năng kinh tế: Theo dự báo của giới chuyên gia tài chính, internet vạn vật sẽ mang lại lợi nhuận về kinh tế lên tới 19 nghìn tỷ USD vào năm 2024 và góp phần gia tăng 21% lợi nhuận cho các doanh nghiệp trên toàn cầu từ nay đến năm 2025. Internet vạn vật hiện là một trong những lĩnh vực màu mỡ, dễ sinh lời cho các nhà sản xuất thiết bị, phát triển phần mềm.

CÁC LĨNH VỰC CẦN NGHIÊN CỨU

Sự phát triển bùng nổ của internet vạn vật là xu thế tất yếu, do vậy, để bắt kịp tốc độ phát triển, tăng cường lợi ích và hạn chế những tác động không mong muốn, các quốc gia đang thúc đẩy nghiên cứu tập trung vào một số lĩnh vực sau:

Đạo đức thông tin: Trong thời đại công nghệ thông tin, các doanh nghiệp hưởng lợi trực tiếp từ việc sở hữu và thu thập thông tin từ người dùng, kể cả những thông tin riêng tư cho mục đích phân tích, giúp doanh nghiệp đạt doanh thu cao hơn. Những thông tin này được thu thập, mã hóa và phân tích vì mục đích không chính đáng đã gây ảnh hưởng và xâm phạm quyền riêng tư của người khác. Việc nghiên cứu và ứng dụng internet vạn vật không chỉ làm thay đổi cách sống của con người hiện đại, mà còn cả cách con người hiểu về bản thân, xã hội, các mối quan hệ, triết lý sống và thế giới quan của họ. Do vậy, vấn đề đạo đức trong ứng dụng internet vạn vật cần phải được đặc biệt coi trọng.

Nghiên cứu kỹ thuật: Nghiên cứu kỹ thuật đối với internet vạn vật rất phức tạp và mang tính chuyên môn cao, như: xác định tần số vô tuyến, khắc phục va chạm và nhiễu các nút thông tin, kỹ thuật địa phương hóa, an ninh mạng và đặc biệt là IPv6 (giao thức liên mạng thế hệ 6 nhằm gia tăng số lượng địa chỉ internet toàn cầu, với chuỗi địa chỉ 128 bit thay cho 32 bit như phiên bản IPv4 hiện nay)…

Nghiên cứu ứng dụng: Có thể chia việc nghiên cứu ứng dụng internet vạn vật làm 4 nhóm chính, gồm: giao thông vận tải và hậu cần; chăm sóc sức khỏe; môi trường thông minh (nhà ở, văn phòng, nhà máy) và cá nhân – xã hội. Trên thực tế, ứng dụng của internet vạn vật còn có thể được chia theo hai nhóm chính: nhóm hiện hữu và nhóm tương lai. Các ứng dụng hiện hữu phù hợp với trình độ khoa học – kỹ thuật sẵn có, còn các ứng dụng tương lai mang tính viễn cảnh mà khoa học – kỹ thuật hiện chưa đủ khả năng thực hiện.

Có thể thấy, phát triển hệ thống internet vạn vật là xu thế tất yếu và hứa hẹn tiềm năng rất lớn, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho đời sống xã hội. Chính vì vậy, việc nghiên cứu phát triển, ứng dụng internet vạn vật nhằm phát huy lợi ích và quản lý, giám sát ngăn ngừa rủi ro cần phải được quan tâm giải quyết ngay từ bây giờ.

HẢI PHONG

Nguồn: http://tapchi.vdi.org.vn/article/2435/internet-van-vat-trong-xa-hoi-hien-ai

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGÀNH SẢN XUẤT: NHỮNG THÁCH THỨC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã “giáng đòn chí tử” vào nền kinh tế, đẩy lùi đà phát triển của đa số ngành công nghiệp. Cú sốc này đã làm biến mất hàng triệu doanh nghiệp trên toàn thế giới. Nhưng ở một khía cạnh tích cực khác, sự khốc liệt này lại thay đổi việc vận hành kinh tế cũng như dịch chuyển đầu tư giữa các quốc gia.

Các tập đoàn lớn trên thế giới đưa ra kế hoạch dịch chuyển đầu tư sản xuất từ các quốc gia có nguy cơ dịch bệnh cao sang các nước có môi trường đầu tư an toàn hơn. Việt Nam hiện đang là điểm đến sáng giá trong các bản kế hoạch như vậy. Nhưng làm thế nào để thắng được trên trường quốc tế? Đó không chỉ là bài toán của môi trường đầu tư an toàn mà còn là vấn đề nội lực doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030″ với tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. Điều này đánh thức các doanh nghiệp trong các lĩnh vực từ tài chính ngân hàng, đến y tế, giáo dục và tất nhiên không thể thiếu các doanh nghiệp sản xuất – nền tảng của mọi nền công nghiệp.

Tuy nhiên, một thực tế dễ thấy, dù đồng lòng với mục tiêu xây dựng doanh nghiệp số Việt Nam đủ năng lực đi ra toàn cầu, không ít doanh nghiệp sản xuất không biết bắt đầu từ đâu.

Có thể thấy những thách thức mà các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang phải đối mặt, khi mà công nghệ đang thay đổi mỗi ngày, và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trước tiên, phải kể đến bài toán chi phí. Khi quyết định chuyển đổi số, doanh nghiệp chấp nhận thay đổi quy trình, hệ thống, và cả con người. Điều này đòi hỏi một ngân sách đủ lớn để làm đồng bộ, toàn diện, không chắp vá. Khi chưa nhìn thấy một kết quả rõ ràng, việc đầu tư một ngân sách lớn cho hệ thống khiến chủ doanh nghiệp không khỏi lo lắng.

Tiếp theo là những thách thức về thay đổi tư duy ngay trong doanh nghiệp. Chuyển đổi số không phải là câu chuyện riêng của công nghệ mà là bài toán khó của chính con người, những người làm chủ và vận hành doanh nghiệp. Cho dù sở hữu một hệ thống tiên tiến, hiện đại, nhưng tư duy lối mòn lại trở thành rào cản khiến công nghệ không được khai thác và ứng dụng hiệu quả. Bởi vậy, không ngừng học hỏi là không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn vượt qua rào cản về tư duy.

Cuối cùng, lựa chọn công nghệ phù hợp với doanh nghiệp của mình chính là thách thức lớn thứ ba mà doanh nghiệp phải đối mặt. Những câu chuyện về công nghệ mới cho ngành sản xuất như AI, machine learning, IoT hay Cloud đang tràn ngập trên mặt báo. Nhưng chính giải pháp chuyên sâu, cải tiến liên tục và sự lựa chọn từ quá nhiều nhà cung cấp lại khiến chủ doanh nghiệp phải băn khoăn. Làm thế nào để có giải pháp phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình?

Có thể nói, đây chính là những rào cản lớn nhất khiến các nhà máy sản xuất tại Việt Nam loay hoay tìm cách cải tiến và chuyển đổi.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 1.

Trong hội nghị bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh ngày 28.01, chuyên gia của Hewlett Packard Enterprise đã chia sẻ với các cơ quan bộ ban ngành và lãnh đạo cấp cao tới từ các tập đoàn lớn: “Trước khi vội vàng tìm cách đi trước, dẫn đầu, doanh nghiệp cần phải giải quyết những vấn đề đang tồn tại, từ đó xây dựng giải pháp tối ưu căn cứ vào đặc thù riêng của mình”.

Cụ thể, doanh nghiệp cần có chiến lược chuyển đổi rõ ràng. Điều này có nghĩa là gì? Hãy vạch ra kế hoạch chi tiết cho hành trình chuyển đổi số trong nhà máy sản xuất của mình. Nó sẽ diễn ra trong bao lâu, qua những giai đoạn nào và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp là gì? Hãy lượng hóa mọi tiêu chí, để có một thước đo rõ ràng nhất, thay vì chìm đắm trong viễn cảnh mơ hồ.

Khi đã vẽ được bức tranh tổng thể về hành trình mình sẽ đi, hãy vạch ra phương án tiếp cận theo từng giai đoạn. Căn cứ vào đặc điểm đặc thù của chính doanh nghiệp mình để chia nhỏ các giai đoạn chuyển đổi cho phù hợp. Việc này giúp nhân lực trong nhà máy dễ dàng nhận biết và thích nghi hơn, doanh nghiệp không phải chịu áp lực quá lớn về chi phí ngay từ đầu.

Thu nạp nhân tài trong lĩnh vực CNTT là một yếu tố quan trọng quyết định thành công chuyển đổi số. Bởi lẽ rõ ràng, một hệ thống hiện đại đòi hỏi vận hành bởi những bộ óc đủ thông minh. Một hệ thống sản xuất tự động hóa đòi hỏi một hạ tầng IT đủ mạnh mẽ.

Những công nghệ tiên tiến nhất trong ngành sản xuất, sẽ giúp doanh nghiệp tăng tốc trong hành trình chuyển đổi, tạo năng lực cạnh tranh vượt trội. Ngày nay, data là nguồn sống của doanh nghiệp, vì vậy hãy tận dụng và khai thác tối đa. Thay thế việc bảo trì hệ thống thủ công, theo thời gian định trước bằng việc cập nhật và sửa lỗi tự động, xác định vấn đề trước khi nó xảy ra với công nghệ IoT và deep machine learning.

Chuyển đổi số không phải câu chuyện của riêng quốc gia, ngành nghề hay doanh nghiệp nào. Bản thân HPE trong những năm vừa qua cũng đang không ngừng cải tiến, phát triển, và thử nghiệm để sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI và IoT. Khi đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất như Daido, Seagate hay Leica,…HPE đã xây dựng những giải pháp IT riêng để giải quyết những vấn đề đặc thù mà từng doanh nghiệp đang gặp phải.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 2.

Seagate kết hợp CNTT và OT với hệ thống HPE Apollo, hệ thống hội tụ Edgeline và dịch vụ AI từ HPE Pointnext Services để thúc đẩy việc ra quyết định và đem lại hiệu quả tốt nhất cho chất lượng sản phẩm và hiệu quả quy trình. Trong khi đó, Leica lại cần đến hệ thống máy chủ HPE Moonshot, Moonshot Cartridges và ứng dụng ảo hóa Citrix để quản trị cơ sở hạ tầng tập trung và đơn giản trong trung tâm dữ liệu giúp giảm chi phí một cách lâu bền.

Như vậy, căn cứ vào vấn đề và mục tiêu của từng doanh nghiệp, sẽ có những giải pháp phù hợp khác nhau trên hành trình chuyển đổi số. Mọi vấn đề đều có lời giải đáp, chỉ cần hỏi đúng người. Vượt qua thách thức chính là lúc để lại đối thủ của mình ở phía sau. Bắt đầu hành trình chuyển đổi số ngay hôm nay!

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất của HPE tại Website: manufacturingdx.com

Ánh Dương (theo Nhịp sống kinh tế)

Nguồn: https://cafef.vn/chuyen-doi-so-trong-nganh-san-xuat-nhung-thach-thuc-cho-doanh-nghiep-viet-nam-2021013018420568.chn

NHỮNG XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ GÓP PHẦN ĐỊNH HÌNH THẾ GIỚI CÔNG NGHỆ NĂM 2020

Năm 2020 có một vị trí đặc biệt trong lịch sử hiện đại của nhân loại với cú sốc mang tên đại dịch COVID-19.

Chú thích ảnh
Robot tích hợp AI có thể tự mình sản xuất tin tức. (Ảnh: Getty Images)

Đại dịch đã khiến hoạt động giao thương quốc tế, kinh doanh, du lịch xuyên biên giới vào tình trạng đình trê, kéo lùi đà phát triển của nhiều ngành công nghiệp.

Nhưng không thể phủ nhận rằng cũng chính nhờ đại dịch, quá trình chuyển đổi số đã tăng tốc nữa trên toàn cầu. Nhiều công ty đang đầu tư vào công nghệ thông tin và dữ liệu để chuyển đổi mô hình doanh nghiệp của họ. Theo một số thông kê, có tới 88% các sáng kiến chuyển đổi công nghệ thông tin của các doanh nghiệp đã được đẩy nhanh nhờ COVID-19.

Dù không thể phủ nhận những tác động mang tính kìm hãm của COVID-19, những xu hướng chuyển đổi số dưới đây đã góp phần định hình cho thế giới công nghệ trong năm 2020.

Siêu tự động hóa

Siêu tự động hóa chỉ sự kết hợp của công nghệ như tự động hóa quy trình bằng robot (RPA), phần mềm quản lý kinh doanh thông minh (iBPM) và Trí tuệ nhân tạo (AI) để giúp con người đưa ra quyết định nhanh hơn và sáng suốt hơn.

Trong một báo cáo, công ty nghiên cứu và tư vấn Gartner nhận định rằng quá trình siêu tự động hóa sẽ dẫn đến sự hình thành một “bản sao kỹ thuật số” (digital twins) của tổ chức, đặc biệt là tại các doanh nghiệp áp dụng công nghệ Internet kêt nối vạn vật (IoT). Bản sao số giúp các doanh nghiệp hình dung cụ thể quy trình làm việc, cách thức hoạt động cùng những tương tác chỉ số để thúc đẩy giá trị kinh doanh. Nó cũng cung cấp những đánh giá liên tục theo thời gian thực về doanh nghiệp, từ đó tác động đến các quyết định và cơ hội kinh doanh của những lãnh đạo cấp cao.

Gartner nhận định các doanh nghiệp sẽ chuyển sang hướng siêu tự động hóa nhiều hơn khi họ phải chạy đua để giảm chi phí, bù đắp cho việc áp dụng công nghệ mới đồng thời mang lại trải nghiệm nội bộ và chăm sóc khách hàng tốt hơn. Công ty tư vấn dự báo tới năm 2022, hơn 2/3 số doanh nghiệp có sử dụng IoT sẽ triển khai tối thiểu một bản sao số trong hoạt động sản xuất. Nhưng với sự thúc đẩy của đại dịch COVID-19, khoảng thời gian trên có thể được rút ngắn hơn nữa.

Mạng 5G 

Nhu cầu về đường truyền kết nối Internet đã tăng mạnh khi người lao động phải rời những khu văn phòng có chất lượng mạng tốt để chuyển về làm việc tại nhà do đại dịch. Và không khó hiểu tại sao các nhà điều hành viễn thông đã tăng tốc phát triển hệ thống mạng 5G của mình, dù chưa thể phủ sóng diện rộng.

Tính đến tháng 12/2020, có 412 nhà mạng tại 131 quốc gia đang đầu tư vào 5G, trong khi dịch vụ mạng 5G đã được triển khai ở gần như mọi khu vực chính trên thế giới,bao gồm 85 mạng ở châu Âu, Trung Đông và châu Phi (EMEA), 35 mạng ở châu Á – Thái Bình Dương và 15 mạng ở châu Mỹ. Hiện đã có 519 thiết bị 5G từ 104 nhà cung cấp thiết bị gốc được công bố, với 303 thiết bị đã có mặt trên thị trường.

Những con số trên cho thấy tốc độ phát triển mạng 5G không hề bị giảm tốc vì đại dịch COVID-19 mà có thể tiếp tục bùng nổ trong giai đoạn tới. Năm 2021 chắc chắn sẽ là một năm quan trọng đối với công nghệ này .

AI và Machine Learning

AI và học máy (Machine Learning) đã bùng nổ trong năm 2020 khi nhu cầu thu thập và phân tích lượng dữ liệu khổng lồ của các doanh nghiệp tăng vọt. Giới phân tích nhận xét rằng giá trị của AI và học máy đối với hoạt động phân tích dữ liệu có thể được chắt lọc thành ba yếu tố cốt lõi: tốc độ, quy mô và sự tiện lợi. Cả ba điều này đều được chứng minh trong năm nay, khi đại dịch lan rộng trên toàn cầu đã đẩy các doanh nghiệp phải chuyển lên môi trường số.

Lĩnh vực AI đang thu hút ngày càng nhiều đầu tư, khi công nghệ này được tích hợp vào ngày càng nhiều ứng dụng hàng ngày. Các nhà cung cấp nền tảng điện toán đám mây như Google, IBM, Microsoft và AWS đang đẩy mạnh đầu tư vào việc tăng tốc truyền dẫn dữ liệu. Các nhà sản xuất chip như NVIDIA và Intel đang xây dựng những bộ xử lý đồ họa (GPU) và bộ xử lý trung tâm (CPU) có khả năng đẩy quá trình đào tạo và học hỏi từ dữ liệu. Điều này cũng đang được mở rộng cho lĩnh vực điện toán phân tán, nơi AI đang giúp xử lý lượng dữ liệu khổng lồ từ các hệ thống IoT.

Ở quy mô nhỏ hơn, AI và ML đang giúp các công ty giải quyết được các vấn đề chăm sóc khách hàng thông qua AI đàm thoại. Công nghệ này cũng thu hút sự chú ý của các công ty công nghệ lớn nhất thế giới, khi lĩnh vực ứng dụng của nó trải từ trợ lý cá nhân “ảo” trên thiết bị di động đến các chatbot hỗ trợ khách hàng mua sắm trực tuyến.

Công nghệ chuỗi khối (blockchain)

Năm 2019 được coi là năm khá ảm đạm của công nghệ chuỗi khối (blockchain), tới mức nhiều chuyên gia gần như từ bỏ ý tưởng rằng công nghệ này sẽ mở rộng nhanh như kỳ vọng trước đó. Nhưng sang năm 2020, blockchain đã có một cú bứt phá khi cuộc khủng hoảng COVID-19 đã bộc lộ sự yếu kém trong kết nối và trao đổi dữ liệu chung trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này đã xóa sạch những nghi ngờ về giá trị của các nền tảng dựa trên blockchain.

Vì chuỗi cung ứng dễ phân tán và liên quan đến nhiều bên, Gần như mọi quy trình giao dịch phi tập trung đều trở nên hiệu quả và minh bạch hơn bằng cách sử dụng công nghệ blockchain. Các nền tảng dựa trên blockchain đều có khả năng chống giả mạo thông tin, đồng thời cho phép mọi bên theo dõi quá trình ghi chép và xác minh thông tin trong chuỗi cung ứng.

Không chỉ được áp dụng trong quản lý chuỗi cung ứng hàng hóa, blockchain cũng được sử dụng để theo dõi giám sát dữ liệu y tế công cộng, đặc biệt đối với các đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm như COVID-19. Với tính minh bạch của mình, blockchain sẽ giúp các tổ chức và Chính phủ đưa ra những dự báo chính xác hơn, từ đó phản ứng hiệu quả hơn. Blockchain cũng có thể giúp nhanh chóng phát triển các phương pháp điều trị nhờ tốc độ xử lý dữ liệu vượt trội của mình.

Ứng dụng thực tế ảo VR/AR

Trong năm 2020, đại dịch COVID-19 đã khiến nhiều người tìm đến các ứng dụng và thiết bị thực tế ảo (VR) và thực tế ảo tăng cường (AR) hơn so với trước đây. Với những thiết bị này, người dùng có thể chơi trò chơi điện tử, khám phá các điểm đến du lịch ảo, tham gia sự kiện giải trí trực tuyến, cũng như tìm kiếm sự tương tác giữa người với người thông qua các nền tảng VR xã hội khi họ phải ở trong nhà vì các hạn chế đi lại.

Các doanh nghiệp cũng sử dụng nền tảng VR để đào tạo nhân sự, tổ chức hội nghị, họp bàn các dự án và tạo những kết nối trực tuyến giữa các nhân viên. Các nhà khoa học trên thế giới cũng đã chuyển sang nền tảng VR để thiết kế phân tử, hợp tác nghiên cứu virus SARS-CoV-2 gây dịch COVID-19, từ đó xác định các phương pháp điều trị tiềm năng.

Năm 2020 đã qua đi, song những “vết thương” khó lành của thế giới vẫn còn ở lại. Đặc biệt, cú sốc mang tên COVID-19 làm đảo lộn cuộc sống và khiến nền kinh tế toàn cầu chao đảo vẫn còn đe dọa nhân loại. Trong bối cảnh đó, các xu hướng công nghệ nêu trên vẫn còn dư địa để tiếp tục phát triển, giúp con người có thể duy trì kết nối, làm việc, giải trí và giữ gìn sức khỏe trong một thế giới còn tồn tại nhiều bất ổn khó giải quyết.

H.Thủy (theo TTXVN)

Nguồn: https://baotintuc.vn/khoa-hoc-cong-nghe/nhung-xu-huong-chuyen-doi-so-gop-phan-dinh-hinh-the-gioi-cong-nghe-nam-2020-20210101122927380.htm

NHÀ MÁY THÔNG MINH – MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI SỐ CHO DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo nên những thay đổi lớn ở quy mô chưa từng có do sự dịch chuyển của một số yếu tố như cải tiến công nghệ, đặc tính sản xuất và môi trường làm việc. Làn sóng chuyển đổi diễn ra trên toàn cầu và ở hầu hết các ngành trọng yếu. Tại Việt Nam, chiến lược chuyển đổi sang nhà máy thông minh đã và đang làm thay đổi diện mạo ngành sản xuất theo hướng tích cực hơn bao giờ hết.

Có thể thấy, cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất có đặc trưng là đưa ứng dụng kỹ thuật vào ngành sản xuất. Cách mạng lần thứ hai sử dụng điện năng phục vụ sản xuất hàng loạt. Đặc điểm của cách mạng công nghiệp lần ba là sử dụng điện tử và công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất. Còn chìa khóa của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chính là sự cải tiến công nghệ quản lý thông qua internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), và công nghệ điện toán… Đây chính là thời điểm quyết định liệu doanh nghiệp sản xuất nào có thể tổn tại và bứt phá, doanh nghiệp nào sẽ dừng lại phía sau.

Trong nhiều thập kỷ, Hewlett Package Enterprise (HPE) đã không ngừng phát triển các sản phẩm và giải pháp hạ tầng IT cho ngành sản xuất và hiện sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI & IoT. Nhận thấy những thách thức cũng như cơ hội mà ngành sản xuất ở Việt Nam đang đối mặt, HPE chia sẻ kinh nghiệm triển khai giúp doanh nghiệp sản xuất có những bước đi vững vàng và chắc chắn ngay từ giai đoạn sơ khởi.

Cụ thể, HPE khái quát mô hình quản lý số cho nhà máy qua 3 giai đoạn: Khai thác dữ liệu, Giám sát tình trạng và phân tích dữ liệu, Phân tích dự đoán

Giai đoạn 1: Khai thác dữ liệu

Ở giai đoạn này, dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau được trích xuất, bao gồm dữ liệu từ hệ thống quản lý và cơ sở dữ liệu sản xuất hiện có, cảm biến, SCADAs, PLCs và máy móc được tích hợp vào nền tảng ThingWorx IoT thông qua HPE Edgeline EL300. Nền tảng IoT có thể được vận hành trên cloud hoặc máy chủ vật lý HPE Apollo. Trong đó, HPE Apollo được thiết kế cho các ứng dụng điện toán hiệu suất cao (HPC) bao gồm AI.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe2

MES (Manufacturing Execution System – Hệ thống điều hành sản xuất) là một hệ thống quản lý sản xuất tích hợp tập trung vào giám sát sàn, kiểm soát, hậu cần, theo dõi lịch sử và quản lý chất lượng sản phẩm theo thời gian thực với mục tiêu nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh.

Giai đoạn 2: Giám sát tình trạng và phân tích dữ liệu

Theo dõi điều kiện của dữ liệu có sẵn nhờ vào IoT, trước khi khai thác thông tin để đưa ra điều phối cao hơn ở bước phân tích và dự đoán. Theo dõi tình trạng với giả định rằng sức khỏe máy móc sẽ xấu đi theo thời gian và cuối cùng sẽ bị hỏng.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe3

Các lỗi máy móc thường gặp được xác định bởi các thông số thiết bị giám sát như độ rung, nhiệt độ động cơ và điều kiện môi trường xung quanh. Từ những dữ liệu này có thể phân biệt giữa mòn bánh răng, thiếu bôi trơn vòng trục, lệch trục hay lỗi điện năng…

Để đảm bảo độ tin cậy cao của thiết bị và ngăn chặn thời gian ngừng hoạt động ngoài kế hoạch, việc theo dõi hiệu suất thiết bị đóng vai trò chủ động để có thể lên lịch bảo trì trước khi sự cố xảy ra. Nhờ đó, tránh được những thiệt hại về tiền bạc, thời gian và công sức.

Dữ liệu được phân tích, trực quan hóa và hiển thị cho nhân viên nhà máy trên trang tổng quan trong ứng dụng di động hoặc phần mềm tăng cường thực tế ảo.

Tuy nhiên những báo cáo và hình dung này vẫn còn xa so với dự đoán. Để có dự đoán chính xác, các dữ liệu kết hợp từ các nguồn khác nhau được sử dụng để thiết lập các thuật toán máy học nhằm xác định các mẫu bất thường có thể dẫn đến lỗi thiết bị.

Giai đoạn 3: Phân tích dự đoán

Dự đoán bảo trì dựa trên thông tin chi tiết được trích xuất từ dữ liệu, thu thập được trong điều kiện thiết bị được giám sát liên tục. Các thông số kết hợp về tình trạng thiết bị, điều kiện môi trường, và cài đặt hoạt động được thu thập từ các cảm biến. Dữ liệu này sau đó được kết hợp với cài đặt vận hành, lịch sử dữ liệu trong cơ sở dữ liệu, dữ liệu bảo trì và dịch vụ trong hệ thống ERP. Tập hợp này được đưa vào các thuật toán máy học trên HPE Apollo 6500, từ đó mô hình dự đoán nhận ra sự kết hợp của các mẫu thông số dữ liệu môi trường và tình trạng thiết bị, nhận biết tình trạng khỏe mạnh và có vấn đề, bằng cách phát hiện ra mối tương quan nhân quả trong tập dữ liệu.

Mặt khác, dữ liệu máy học quan trọng được xử lý ở Biên (Edge) và việc ra quyết định được thực hiện ngay tại chỗ. Mô hình dự đoán này được triển khai trên HPE Edgeline EL1000 để dự đoán thời gian thực. Các lỗi tiềm ẩn được phát hiện vào thời gian thực sẽ kích hoạt một thông báo để cảnh báo nhóm bảo trì đồng thời thực hiện khắc phục sự cố thông qua Programmable Logic Controllers (PLCs) dựa trên vòng phản hồi thông tin. Điều này đảm bảo quá trình vận hành không bị gián đoạn nhờ việc phát hiện các lỗi tiềm ẩn thông qua phân tích dự đoán.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe4

Hạ tầng IT của HPE là nền tảng thông minh cho hệ thống vận hành sản xuất kỹ thuật số, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, cụ thể như giảm thiểu chi phí liên quan đến nhân sự bảo trì hệ thống, thiết bị bảo trì dự trữ, ngăn ngừa rủi ro hệ thống ngừng hoạt động ngoài kế hoạch bằng cách dự đoán lỗi thiết bị và lên lịch sửa chữa, bảo trì, đảm bảo an toàn cho người lao động nhờ thông tin từ dữ liệu thu thập tự động.

Theo báo cáo từ khách hàng của HPE, một nhà máy sản xuất theo quy trình đã uớc tính giảm 20% thời gian chết, giảm 50% chi phí bảo trì theo kế hoạch. Trong khi đó, một nhà máy sản xuất hộp đựng thực phẩm có sản lượng tăng tới 45% và giảm tới 50% các vấn đề về chất lượng sản phẩm qua từng năm.

Nhìn chung, việc triển khai IoT và AI thành công với lợi tức đầu tư hợp lý để mở ra những giá trị đích thực của công nghệ đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức ngành (từ chủ doanh nghiệp), phần cứng IoT (HPE), phần mềm (ThingWorx) và dịch vụ chuyên môn (CAD-IT IoT Centre) để thu hẹp khoảng cách từ lý thuyết đến thực tế.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất có vốn FDI đang dẫn đầu xu hướng chuyển đổi sang nhà máy thông minh, tạo ra khác biệt rõ rệt giữa mô hình sản xuất truyền thống và hiện đại. Xu thế chuyển đổi số là điều tất yếu và cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt khi các ứng dụng công nghệ hàng đầu thế giới đều có mặt tại đây.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe5

Charles Darwin từng nói: “Để tồn tại, bạn không cần phải là người mạnh mẽ hay thông minh nhất, mà là người thích nghi tốt nhất”. Điều này đặc biệt đúng khi nói đến sự thay đổi nhanh chóng trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Khi mà IoT đã thúc đẩy tăng tốc quá trình với tổng ước tính khoảng 21 tỷ thiết bị được kết nối IoT vào năm 2025. Vậy doanh nghiệp bạn đã sẵn sàng thích nghi và chuyển đổi?

Hewlett Packard Enterprise (HPE) là công ty đa quốc gia của Mỹ chuyên cung cấp sản phẩm và giải pháp công nghệ thông tin cho doanh nghiệp, có tiền thân là Hewlett Packard (HP). Tìm hiểu thêm về giải pháp hạ tầng cho nhà máy thông minh của HPE tại manufacturingdx.com.

Nguồn: https://tgs.vn/iot/nha-may-thong-minh-mo-hinh-chuyen-doi-so-cho-doanh-nghiep-san-xuat-tai-viet-nam/

5G VÀ IOT SẼ THAY ĐỔI VIỄN THÔNG, KINH DOANH VÀ TIÊU DÙNG NHƯ THẾ NÀO?

Mạng 5G sẽ thúc đẩy quá trình phát triển công nghệ trong Internet of Things (Internet vạn vật hay IoT). Và khi trở nên phổ biến, cả hai sẽ hoàn toàn định hình lại bộ mặt kinh doanh và tiêu dùng của các ngành.
5G và IoT được kỳ vọng sẽ đem đến những thành tựu công nghệ mới ở nhiều lĩnh vực /// Ảnh: AFP
5G và IoT được kỳ vọng sẽ đem đến những thành tựu công nghệ mới ở nhiều lĩnh vực. (Ảnh: AFP)
Chuyên mục Intelligence của trang Business Insider đã thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu, trong đó phân tích lĩnh vực công nghệ và nhiều lĩnh vực khác để đưa ra góc nhìn tổng quan về cách mà 5G và IoT sẽ góp phần tạo nên sự chuyển mình trong tương lai của hoạt động viễn thông, kinh doanh, chính quyền, tiêu dùng công nghệ.
Trước hết, mạng 5G sẽ tạo lực đẩy cho sự phát triển của IoT qua việc cung cấp tốc độ truyền tải dữ liệu nhanh hơn (nhanh hơn 10 lần so với 4G trong một số trường hợp). Độ trễ trong giao tiếp truyền thông sẽ giảm xuống mức rất thấp là khoảng 1 mili giây, đối với 4G con số này là 50 mili giây. Băng thông của 5G cũng cao hơn gấp 10 lần so với 4G nếu xét về số lượng thiết bị được kết nối trong một hệ thống mạng.

Viễn thông

5G và IoT sẽ thay đổi viễn thông, kinh doanh và tiêu dùng như thế nào? - ảnh 1
Nokia đang cạnh tranh Ericsson và Huawei trong cuộc đua cung cấp giải pháp 5G. (Ảnh: AFP)

Đến cuối năm 2020, hơn một phần năm quốc gia trên thế giới sẽ triển khai các dịch vụ mạng 5G. Kết nối IoT toàn cầu sẽ tăng gấp đôi trong thời gian từ năm 2018 đến 2025, nhảy vọt từ 9 tỉ lên 25 tỉ. Ngành công nghiệp mạng không dây của Mỹ sẽ đầu tư lên đến 275 tỉ USD trong năm 2026 để xây dựng cơ sở hạ tầng 5G, tạo ra 3 triệu việc làm và tạo ra giá trị 500 tỉ USD cho nền kinh tế nước này.

Kinh doanh

Những tập đoàn lớn sẽ sử dụng nhiều thiết bị kết nối hơn để giám sát vận hành và tối ưu quy trình làm việc trên toàn cầu. Ba giải pháp IoT đứng đầu cho kinh doanh được dự đoán gồm: giám sát từ xa, theo dõi tài sản và quản lý cơ sở thông minh.
5G và IoT sẽ thay đổi viễn thông, kinh doanh và tiêu dùng như thế nào? - ảnh 2
Camera IoT sẽ ngày càng phổ biến ở cả môi trường làm việc lẫn nhà ở. (Ảnh: AFP)
Những thiết bị IoT giám sát từ xa đảm bảo quá trình vận hành diễn ra theo quy định và được tăng thêm hiệu quả. Với giải pháp theo dõi tài sản, thiết bị IoT giúp các công ty quản lý chặt chuỗi cung ứng, thu thập dữ liệu quan trọng để tổ chức công việc hợp lý hơn, xác định những vấn đề tiềm tàng hoặc “nút cổ chai” ảnh hưởng đến phát triển. Thêm vào đó, các cơ sở hạ tầng có sử dụng thiết bị IoT như đèn và hệ thống HVAC thông minh sẽ giúp giảm thiểu chi phí vận hành cho công ty, thông qua khả năng tự động hóa. HVAC là viết tắt của hệ thống kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí.

Chính phủ

Các chính phủ đang đầu tư vào giải pháp 5G và IoT để giảm tỷ lệ tội phạm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ phát triển và cải thiện tình trạng môi trường.
Những thành phố thông minh sẽ tận dụng sản phẩm IoT như cảm biến, hệ thống đèn và máy đo để thu thông tin quan trọng về cơ sở hạ tầng. Một số chính phủ dự kiến sẽ đầu tư gần 900 tỉ USD hằng năm vào những giải pháp thành phố thông minh vào năm 2023. Tiêu hao năng lượng vào đèn sẽ giảm đến 35% nhờ vào bóng đèn LED công suất thấp của các giải pháp chiếu sáng thông minh.

Tiêu dùng

Người tiêu dùng sẽ chi hơn 14.000 tỉ USD vào thiết bị và dịch vụ IoT, cũng như hoạt động bảo quản chúng trong năm 2026. Ericsson dự kiến sẽ có hơn 7,2 tỉ smartphone được đăng ký trên toàn cầu vào năm 2024.
5G và IoT sẽ thay đổi viễn thông, kinh doanh và tiêu dùng như thế nào? - ảnh 3
Người tiêu dùng sẽ chi mạnh hơn cho các thiết bị IoT. (Ảnh: AFP)

Phân nửa số người tham gia khảo sát của Business Insider muốn gọi và nhắn tin thông qua trợ lý trí tuệ nhân tạo như Google Assistant hay Amazon Alexa, hơn một phần ba trong số họ muốn chúng đảm nhiệm thêm vai trò là điều khiển TV.

Nguồn: https://thanhnien.vn/cong-nghe/5g-va-iot-se-thay-doi-vien-thong-kinh-doanh-va-tieu-dung-nhu-the-nao-1296338.html

Đăng ký nhận thông tin