NỀN KINH TẾ SỐ VIỆT NAM TĂNG TRƯỞNG 16%, LỚN NHẤT TRONG KHU VỰC

Theo báo cáo của Google, trong khi toàn thế giới đã trải qua một năm 2020 với một màu xám ảm đạm thì nền kinh tế số Việt Nam nổi lên như một điểm sáng với tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong khu vực (16%).

Theo báo cáo của Google, trong khi toàn thế giới đã trải qua một năm 2020 với một màu xám ảm đạm thì nền kinh tế số Việt Nam nổi lên như một điểm sáng với tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong khu vực (16%).

Đại dịch Covid-19 đã và đang làm thay đổi sâu sắc văn hóa tiêu dùng của khách hàng, họ chọn lựa sản phẩm, tìm kiếm thông tin và ra quyết định mua sắm trực tuyến nhiều hơn. Điều này thúc đẩy các ngành công nghiệp truyền thống tận dụng kỹ thuật số để tiếp cận và phục vụ nhu cầu của khách hàng.

Số người dùng internet và mạng xã hội ở Việt Nam tính tới tháng 1 năm 2021
Số người dùng internet và mạng xã hội ở Việt Nam tính tới tháng 1 năm 2021.

Trong số liệu thống kê từ báo cáo Digital Vietnam in 2021, mức thời gian online của người dùng từ 3,1 giờ tăng lên đỉnh điểm 4,2 giờ trong đại dịch và hiện vẫn ở mức 3,5 giờ mỗi ngày. Thế giới hiện có 7,83 tỷ người trong đó có 5,22 tỷ người dùng điện thoại di động, 4,66 tỷ người sử dụng Internet và 4,2 tỷ (chiếm 53.6%) người sử dụng các mạng xã hội.

Trong khi đó tại Việt Nam, có khoảng 68,17 triệu người Việt Nam trực tuyến (chiếm 70% dân số) thông qua các nền tảng, ứng dụng khác nhau. Đáng chú ý là có tới 65 triệu người trong số họ là người dùng mạng xã hội tích cực (chiếm 67% dân số) và 99% trong số này thường xuyên sử dụng bằng điện thoại di động.

97% người Việt Nam có thói quen truy cập Internet hàng ngày, trong số đó có 95% là xem video. Con số này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng video như một hình thức tiếp thị của thời đại mới.

Thời gian sử dụng internet trên các thiết bị của người Việt Nam
Thời gian sử dụng internet trên các thiết bị của người Việt Nam.

Tầm phủ sóng của các trang mạng xã hội tại Việt Nam đang ngày càng trở nên mạnh mẽ. Trong năm 2019 số người sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam là 62 triệu người. Nhưng tính đến tháng 1 năm 2021, con số này là 72 triệu người. Trong đó, 61 triệu khách hàng có thể được tiếp cận thông qua quảng cáo trên Facebook, 5,4 triệu trên Instagram, 3,3 triệu trên LinkedIn và 1,27 triệu người qua Twitter”.

Không quá khi nói rằng đây là thời kỳ nở rộ của các video trên mạng xã hội, video trở thành “vua nội dung” trên các nền tảng tương tác. Theo thống kê, mỗi ngày, có hơn 4 tỷ lượt xem video trên YouTube, trong khi, con số này ở Facebook là 5 tỷ. Theo các chuyên gia nhận định: Năm 2020, 80% lượng truy cập tới từ các video và trong tương lai không xa, video sẽ chiếm lượng traffic lớn nhất trên Internet.

Các số liệu cho thấy, những video có tính trải nghiệm cao sẽ được khán giả quan tâm nhiều hơn. Những video DIY (Do it Yourself), câu chuyện của người sáng lập, video tự quay kể về những câu chuyện phù hợp… sẽ giúp thương hiệu đến gần hơn với khán giả của mình, gián tiếp giúp cải thiện doanh số bán hàng và xây dựng uy tín lâu dài của thương hiệu.

Để đáp lại Tiktok, Facebook cũng đã cho ra mắt nền tảng Instagram Reels cũng với chức năng gần tương tự. Cuộc cạnh tranh giữa các mạng xã hội sẽ ngày càng trở nên quyết liệt trong những năm tới đây.

Bên cạnh đó, các ứng dụng trên thiết bị di động chiếm một phần không hề nhỏ trong thói quen chia tiêu của người tiêu dùng. Vì thế, các nhà bán lẻ đã tận dụng lợi thế này để quảng cáo sản phẩm của họ. Trên toàn thế giới, các giao dịch qua điện thoại di động ước tính sẽ chiếm gần 75% tổng số giao dịch thương mại điện tử vào năm 2021. Việc áp dụng các chiến lược marketing trên thiết bị di động cũng đang được các doanh nghiệp đẩy mạnh trong năm 2020 để chiếm được nhiều ưu thế trong thị trường hơn. Hiện nay tại Việt Nam, các ứng dụng có lượng truy cập lớn như Shopee, Grab… đã bắt đầu triển khai hoạt động quảng cáo trên nền tảng của họ và hứa hẹn sẽ bùng nổ trong 2021.

Minh Châu

Nguồn:

SẼ NÂNG TẦM HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA

Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tập trung ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ… nhằm cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.   

Chú thích ảnh
Khách tham quan triển lãm các sản phẩm công nghệ tại Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia năm 2019 (Techfest 2019). Ảnh tư liệu: Minh Quyết/TTXVN

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết: Việc xây dựng và đẩy mạnh, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam là quá trình đầu tư lâu dài của Chính phủ cùng với quá trình phát triển của đất nước và doanh nghiệp. Trước mắt, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia và tăng cường sự gắn kết, hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp để đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong sản xuất, kinh doanh; Kết nối các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước, phát huy vai trò của hệ thống các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, gắn kết với các địa phương thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mang lại hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh tế – xã hội các địa phương.

Theo đó, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thực hiện các giải pháp nâng tầm hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia; hình thành và phát triển Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia tại 3 khu vực là: Thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò hạt nhân kết nối, phát triển hệ sinh thái và hình thành mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; khuyến khích sự tương tác, kết nối nguồn lực giữa hệ thống các Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nước và quốc tế. Đồng thời, phát triển 3 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi thế giới và 1 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương đến năm 2025. Đến năm 2030, phát triển 5 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi thế giới và 2 tỉnh/thành phố đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của châu Á-Thái Bình Dương.

Ngoài ra, Bộ cũng đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ cao gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị; phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái số với các nền tảng dùng chung, các dịch vụ, mô hình kinh doanh mới; từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế số.

HL (TTXVN)

THỜI CƠ, VẬN HỘI MỚI ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ SỐ, XÃ HỘI SỐ VIỆT NAM

Mùa xuân Tân Sửu này, khi đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, đất nước rộn ràng chuyển mình sang nhịp sống mới, trạng thái bình thường mới, trong đó có nhiều thời cơ, vận hội mới để phát triển nền kinh tế số, xã hội số ở nước ta.

Điểm đến hấp dẫn

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo các bộ, ban, ngành tham dự lễ khai trương Cổng Dịch vụ công quốc gia tại Hà Nội – Ảnh: VGP

Vượt qua muôn vàn khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ về kinh tế số, xã hội số.

Theo báo cáo “Nền kinh tế số Đông Nam Á năm 2019” do Google, Temasek và Bain thực hiện, nền kinh tế số Việt Nam năm 2019 trị giá 12 tỷ USD, cao gấp 4 lần so với giá trị của năm 2015 và dự đoán chạm mốc 43 tỷ USD vào năm 2025. Nhờ có nền kinh tế số mà các ngành nghề kinh doanh sôi động hẳn lên, từ thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến trên các trang mạng xã hội (Facebook, instagram), giải trí (Netflix, Pinterest), giao thông vận tải (Uber, Grab, GoViet) đến phân phối, bán buôn và bán lẻ (Lazada, Shopee)… Cụ thể, quy mô thị trường thương mại điện tử khoảng 5 tỷ USD, trong khi du lịch trực tuyến khoảng 4 tỷ USD, truyền thông trực tuyến đạt 3 tỷ USD, gọi xe công nghệ khoảng 1 tỷ USD. Nước ta cũng trở thành nơi đón nhận nguồn vốn đầu tư đứng thứ 3 trong khu vực vào các công ty hoạt động trên nền tảng công nghệ thông tin, internet; với 0,35 tỷ USD cho 137 thương vụ trong năm 2018 và 0,26 tỷ USD cho 54 thương vụ trong năm 2019. Một số thương vụ đầu tư vào MoMo, Sendo, Topica từ các nhà đầu tư quốc tế, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến tích cực trong xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần tạo nền tảng để phát triển nền kinh tế số, xã hội số. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết Văn phòng Chính phủ đã chủ trì, cùng với các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn công nghệ thông tin, chuyên gia tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và có kết quả cụ thể để thúc đẩy nền kinh tế số và xã hội số tại Việt Nam. Cụ thể như: 1- Trục liên thông văn bản quốc gia được khai trương từ ngày 12/3/2019, đến ngày hết tháng 12/2020 đã kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử giữa 95/95 cơ quan trung ương và địa phương; hơn 3,6 triệu văn bản điện tử, gửi nhận qua Trục, giúp tiết kiệm được trên 1.200 tỷ đồng/năm. 2- Với Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet), chi phí tiết kiệm được khi sử dụng Hệ thống là khoảng 169 tỷ đồng/năm. 3- Sau một năm vận hành chính thức Cổng dịch vụ công quốc gia đã có hơn 2.650 dịch vụ công được tích hợp, cung cấp trên tổng số gần 6.700 thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền. Chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến trên Cổng là hơn 6.700 tỷ đồng/năm. 4- Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kết nối với 14 bộ, cơ quan, 37 địa phương và 106/200 chỉ tiêu kinh tế-xã hội. Chi phí tiết kiệm khi vận hành Hệ thống này khoảng 460 tỷ đồng/năm.

Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, đến nay đã có hơn 23 triệu người dân đã dùng ứng dụng công nghệ để chống dịch COVID-19. Trong lĩnh vực giáo dục, có 53.000 trường học, 1,4 triệu giáo viên, 23 triệu học sinh. 80% học sinh, sinh viên học trực tuyến trong giai đoạn cao điểm của đại dịch COVID-19, cao hơn mức trung bình của các nước là 67,15%.

Tuy nhiên, mức độ chủ động tham gia phát triển nền kinh tế số nước ta còn không ít hạn chế, có phần tự phát. Thể chế, chính sách còn nhiều bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội; hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia mới được hình thành, chưa đồng bộ và hiệu quả. Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp. Kinh tế số có quy mô còn nhỏ. Việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức.

Thời cơ, vận hội mới để phát nền kinh tế số, xã hội số tại Việt Nam

hời cơ, vận hội mới để phát triển xã hội số, kinh tế số – Ảnh minh họa

Đầu tháng 1/2021, Đại hội Đảng lần thứ XIII đã nhất trí thông qua Nghị quyết của Đại hội, khẳng định rõ, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Phát biểu tại Đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số.

Trước đó, tháng 9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong đó nêu rõ, yêu cầu cấp bách phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, Việt Nam thuộc nhóm ít các nước trên thế giới sớm ban hành chiến lược chuyển đổi số quốc gia, chiến lược về một quốc gia số. Với mục tiêu rất cao mà Chương trình đề ra, cần phải quyết liệt phấn đấu mới thực hiện được như: Đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP; năm 2030 chiếm 30% GDP; 50% dân số có tài khoản thah toán điện tử vào năm 2025 và đến năm 2030 là 30% dân số…

Để triển khai thực hiện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cam kết đổi mới, ứng dụng công nghệ mới, thúc đẩy công nghiệp sáng tạo phát triển. Thủ tướng Chính phủ cũng cho phép chấp nhận thử nghiệp sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số trong khi quy định pháp lý chưa đầy đủ, rõ ràng. Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành chức năng có liên quan nghiên cứu, đề xuất ngay chính sách, quy định cụ thể về thuế, phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng, cung cấp các dịch vụ số.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, để chuyển đổi số, Việt Nam có thể chọn chiến lược 3 bước: Bước một, đẩy nhanh việc số hóa các lĩnh vực, các ngành công nghiệp, đẩy nhanh chuyển đổi số chính phủ, chuyển đổi số doanh nghiệp, chuyển đổi số trong xã hội, nhằm tăng hiệu quả hoạt động, tăng năng suất lao động và tạo ra các cơ hội tăng trưởng mới. Bước hai, sử dụng số hóa như một lợi thế cạnh tranh trong nước và toàn cầu. Bước ba, tiến tới nền kinh tế số toàn diện, mọi lĩnh vực được số hóa, hình thành các ngành công nghiệp số thế hệ mới, các ngành công nghiệp mới này sẽ là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế. Đồng thời, mỗi quốc gia muốn phát triển bứt phá vươn lên đều phải khơi dậy được sức mạnh tinh thần của dân tộc. Cuộc cách mạng số, cách mạng công nghiệp 4.0 xảy ra thì tương lai sẽ không nằm trên đường kéo dài của quá khứ. Các nước như Việt Nam có cơ hội bứt phá. Nhưng phải là một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự.

Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, Việt Nam đang sở hữu lợi thế vô cùng to lớn về nguồn lực con người với tư chất thông minh, cần cù và với những chính sách nhất quan Đảng, Chính phủ đã ban hành đã ban hành trong thời gian qua và sắp tới đây là thiên thời, địa lợi cho phát triển kinh tế số, xã hội số. Do vậy, hơn lúc nào hết, trong khi đại dịch COVID-19 diễn biến còn phức tạp, càng  cần tạo ra làn sóng, động lực quốc gia về phát triển kinh tế số và có thể bắt đầu ngay từ mùa xuân Tân Sửu này.

Đây chính là thời cơ mới, vận hội mới cho phát triển kinh tế số, xã hội số, đưa nước ta sớm trở thành quốc gia số, tạo lợi thế trong cạnh tranh toàn cầu, góp phần quan trọng để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội./.

Lê Việt

Nguồn: https://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thoi-co-van-hoi-moi-de-phat-trien-nen-kinh-te-so-xa-hoi-so-Viet-Nam/423215.vgế

PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ: QUÁ TRÌNH KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC

Đó là nhận định được Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng đưa ra tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2019.

Xu thế toàn cầu

Công nghệ số, chuyển đổi số, kinh tế số, kỷ nguyên số là một quá trình nhiều thập niên. Quá trình sáng tạo, sản xuất kinh doanh ngày càng diễn ra nhiều hơn trên không gian mạng. Với sự xuất hiện của cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0, thế giới đang ở điểm gẫy của quá trình chuyển đổi số. Đây là cơ cho Việt Nam thực hiện hóa khát vọng Việt Nam hùng cường.

Kinh tế số là các hoạt động kinh tế có sử dụng thông tin số, tri thức số như là yếu tố sản xuất chính; sử dụng mạng Internet, mạng thông tin làm không gian hoạt động; và sử dụng ICT, tức là viễn thông và CNTT, để tăng năng suất lao động, và để tối ưu nền kinh tế. Nếu nói đơn giản thì là nền kinh tế liên quan đến công nghệ số.

Theo nghĩa hẹp thì kinh tế số chỉ liên quan đến lĩnh vực ICT. Theo nghĩa rộng thì là những lĩnh vực gần gũi với công nghệ số, thí dụ như các nền tảng số. Theo nghĩa rộng nhất thì là tất cả các lĩnh vực mà có sử dụng công nghệ số.

Kinh tế số giúp tăng năng suất lao động, giúp tăng trưởng kinh tế. Kinh tế số cũng giúp tăng trưởng bền vững, tăng trưởng bao trùm, vì sử dụng tri thức nhiều hơn là tài nguyên. Chi phí tham gia kinh tế số thấp hơn nên tạo ra cơ hội cho nhiều người hơn. Công nghệ số là không biên giới nên sẽ làm giảm khoảng cách nông thôn và thành thị. Công nghệ số cũng cho chúng ta những cách tiếp cận mới, giải pháp mới để giải quyết hiệu quả những vấn đề tồn tại lâu dài của loài người, như: ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, đo lường tâm trạng xã hội, sự tham gia của người dân vào hoạch định chính sách…

Ở Việt Nam, kinh tế số xuất hiện từ khi có máy tính, đặc biệt là khi có máy tính cá nhân, vào cuối những năm 1980; bắt đầu mạnh mẽ là khi có Internet, vào cuối những năm 1990; phổ cập là khi mật độ điện thoại thông minh trên 50%, vào cuối những năm 2000; và được thúc đẩy mạnh mẽ là khi xuất hiện CMCN 4.0, vào cuối những năm 2010.

Số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách

Kinh tế số Việt Nam thời gian qua cơ bản là phát triển tự phát, nhưng phát triển khá nhanh. Cách nhanh nhất đẩy nhanh nền kinh tế số là sử dụng công nghệ số để thay đổi cách chúng ta đang sản xuất, đang làm việc. Đơn cử, dùng camera để giảm người bảo vệ, đó chính là kinh tế số. Tự động tưới cây khi đất khô, đó cũng chính là kinh tế số. Dùng văn bản điện tử thay giấy tờ cũng là số hóa nền kinh tế. Cuộc cách mạng toàn dân khởi nghiệp công nghệ số, phổ cập công nghệ số sẽ giúp Việt Nam số hóa nền kinh tế rất nhanh.

Công nghệ số sẽ sinh ra những mô hình kinh doanh mới, thách thức mới hoặc thay thế mô hình kinh doanh cũ.

Phát triển kinh tế số: Quá trình không thể đảo ngược
Kinh tế số giúp tăng năng suất lao động, giúp tăng trưởng kinh tế 

Nhiều người nói, số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Đầu tiên phải là chấp nhận các mô hình kinh doanh mới, chấp nhận các công nghệ mới làm thay đổi căn bản các ngành, gọi là X-tech. Những X-tech này (Fintech, EdTech, AgriTech…) thường là sự sáng tạo mang tính phá hủy cái cũ. Nếu chúng ta chấp nhận cái mới thì công nghệ mới của thế giới sẽ về, người tài trên toàn cầu sẽ về, và nền công nghiệp mới sẽ xuất hiện. Khi ấy, cái nôi Việt Nam sẽ tạo ra các sản phẩm công nghệ số xuất khẩu được.

5 yếu tố nền tảng hỗ trợ phát triển kinh tế số

Cách tiếp cận chính sách theo cách truyền thống thường là: Quản được thì mở, quản đến đâu thì mở đến đó, không quản được thì đóng. Cách tiếp cận mới mà nhiều nước áp dụng, gọi là cách tiếp cận Sandbox: Cái gì không biết quản như nào thì không quản, cho tự phát triển, nhưng trong một không gian nhất định, trong một thời gian nhất định, để các vấn đề được bộc lộ một cách rõ ràng, mà thường là không nhiều như lúc đầu các nhà quản lý dự đoán. Sau đó mới hình thành chính sách, hình thành qui định để quản lý. Đây là một trong những cách tiếp cận chính sách phù hợp với cuộc CMCN 4.0.

Những yếu tố mang tính nền tảng để hỗ trợ phát triển kinh tế số Việt Nam gồm:

Thứ nhất, hạ tầng viễn thông – CNTT – công nghệ số hiện đại, ngang tầm thế giới. Khi ấy băng thông rộng, tốc độ cao cộng với việc mỗi người dân có một điện thoại thông minh, sau đó là công nghệ 5G xuất hiện ở Việt Nam sẽ đưa nước ta cùng nhịp với các nước phát triển;

Thứ hai, các chính sách của Chính phủ liên quan tới kinh tế số, công nghệ số, Internet phải có tính cạnh tranh toàn cầu để người Việt Nam không phải ra nước ngoài khởi nghiệp công nghệ số mà còn đưa người nước ngoài, tài năng toàn cầu về Việt Nam phát triển công nghệ;

Thứ ba, Chính phủ chi tiêu nhiều cho sản phẩm công nghệ số, đi đầu về kinh tế số thông qua xây dựng Chính phủ điện tử, nhằm tạo ra thị trường ban đầu để phát triển doanh nghiệp công nghệ, toàn dân khởi nghiệp công nghệ số; Thứ tư là đào tạo nhân lực, song song với việc đưa đào tạo tiếng Anh và CNTT vào chương trình đào tạo bắt buộc.

Ba bước để chuyển đổi số

Để chuyển đổi số, Việt Nam có thể chọn chiến lược 3 bước: Bước một, đẩy nhanh việc số hóa các lĩnh vực, các ngành công nghiệp, đẩy nhanh chuyển đổi số Chính phủ, chuyển đổi số doanh nghiệp, chuyển đổi số trong xã hội, nhằm tăng hiệu quả hoạt động, tăng năng suất lao động và tạo ra các cơ hội tăng trưởng mới. Bước hai, sử dụng số hóa như một lợi thế cạnh tranh trong nước và toàn cầu. Bước ba, tiến tới nền kinh tế số toàn diện, mọi lĩnh vực được số hóa, hình thành các ngành công nghiệp số thế hệ mới, các ngành công nghiệp mới này sẽ là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Và cuối cùng, khi cuộc cách mạng số, CMCN 4.0 xảy ra thì tương lai không nằm trên đường kéo dài của quá khứ. Các nước như Việt Nam chúng ta có cơ hội bứt phá. Nhưng phải là một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự. Cả quản lý nhà nước, cả doanh nghiệp, đều cần một sự đột phá trong tư duy, trong chính sách, trong cách tiếp cận.

VietNamNet

Đăng ký nhận thông tin