SMART FACTORY: SẴN SÀNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ MỚI VỚI MẠNG 5G

Mới đây, cả 3 nhà mạng lớn tại Việt Nam là VinaPhone, Viettel và MobiFone đã đồng loạt công bố việc phát sóng và cung cấp thử nghiệm mạng 5G thương mại. 

Trước xu thế dịch chuyển đầu tư FDI của các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới, Việt Nam đang là điểm đến sáng giá để đầu tư sản xuất. Đây chính là thời điểm quan trọng để các doanh nghiệp học hỏi và ứng dụng công nghệ vào hệ thống nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh.

Smart Factory: Sẵn sàng chuyển giao công nghệ mới với mạng 5G

Yêu cầu kết nối trong nhà máy thông minh

Đặc điểm quan trọng nhất của một nhà máy thông minh là việc kết nối. Smart Factory yêu cầu các quá trình sản xuất cơ bản và nguyên vật liệu cần phải được kết nối để tạo ra các dữ liệu cần thiết giúp đưa ra quyết định kịp thời.

Các nhà máy trước đây chứa rất nhiều máy móc, mỗi thiết bị thực hiện một nhiệm vụ riêng biệt. Trong khi đó, nhà máy thông minh tập hợp các thiết bị này tạo thành một mạng lưới nhiều lớp chia sẻ dữ liệu. Lớp thấp nhất kiểm soát chức năng của từng máy riêng lẻ (Machine), lớp ở giữa kết nối các thiết bị trong cùng hệ thống nhà xưởng, và lớp cao nhất, được gọi là cấp doanh nghiệp, kiểm soát toàn bộ hệ thống sản xuất (MES). Lớp trên cùng này không chỉ tập hợp sản xuất mà còn kiểm soát chuỗi cung ứng, nhu cầu bảo trì và hậu cần của toàn bộ cơ sở để kết nối các hoạt động một cách hoàn hảo trong các ứng dụng công nghiệp khắt khe ngày nay.

Nhờ vậy, smart factory có thể chia sẻ thông tin lên và xuống của tổ chức. Máy móc có thể truy xuất và xử lý dữ liệu liên tục về hiện trạng và giúp dự đoán các yêu cầu bảo trì. Việc sử dụng nguyên liệu thô có thể được theo dõi trong thời gian thực, cho phép hệ thống ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt và dừng dây chuyền. Luồng dữ liệu cũng cho phép nhà sản xuất thực hiện các thay đổi nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Nguồn: https://www.biendongco.vn/

Mạng 5G mang đến cho các nhà sản xuất cơ hội xây dựng nhà máy thông minh và khai thác các công nghệ như tự động hóa (Automation), AI, AR và IoT(Internet of Things).

Công nghệ 5G mới sẽ cách mạng hóa môi trường sản xuất, nhưng yêu cầu hệ thống phần cứng phải phát triển tương ứng với các cảm biến đủ mạnh và đảm bảo tính đơn giản, dễ dàng lắp đặt, bảo trì. Bên cạnh đó, hạ tầng cần phải đáp ứng yêu cầu kết nối liên tục, giảm thiểu độ trễ và đảm bảo an toàn dữ liệu doanh nghiệp, bao gồm cả an ninh mạng và vật lý.

Vai trò của mạng 5G trong nhà máy thông minh

Các nhà sản xuất lớn đã nhanh chóng nhận thấy những triển vọng hấp dẫn mà 5G có thể mang lại như băng thông cao, tính di động, thân thiện với IoT và bảo mật.

“Với 5G, hiệu suất được cải thiện vượt bậc, bạn hoàn toàn có thể sử dụng nó để thay thế mạng có dây truyền thống. Đó chính là giải pháp tuyệt vời cho nhà máy của bạn” – Patrick Filkins – Nhà phân tích và nghiên cứu cấp cao tại IDC cho hay.

Có lẽ, lợi ích rõ ràng nhất mà 5G mang lại cho các nhà sản xuất là, giống như Wi-Fi, chúng ta có thể xây dựng nhà máy mà không cần đến hệ thống dây cáp, một khoản đầu tư khá tốn kém. Trong khi vẫn đảm bảo việc cung cấp băng thông mạng, phát hiện các trở ngại ảnh hưởng đến tính di động, cấu hình lại robots và dây chuyền lắp ráp khi các dòng sản phẩm được cải tiến.

5G cùng hệ thống Wi-Fi sẽ loại bỏ các dây cáp phức tạp, giảm chi phí vận hành và tăng khả năng thích ứng với băng thông cao và độ trễ cực thấp, ước tính có tốc độ nhanh gấp 100 lần mạng 4G LTE. Công nghệ này cho thấy hiệu quả rõ rệt nhất với các hệ thống điều khiển và tự động hóa công nghiệp, hệ thống thiết kế và lập kế hoạch, các thiết bị hiện trường.

Lời khuyên cho các doanh nghiệp sản xuất muốn ứng dụng 5G

Chia sẻ từ ông Lê Bá Tân, Phó tổng giám đốc công ty Mạng lưới Viettel, phải tới năm 2023-2025, mạng 5G mới phổ biến được như 4G do độ phủ còn hạn hẹp và cần xây dựng thêm nhiều trạm phát sóng mới. Như vậy, đây là thời điểm thích hợp để các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam chuẩn bị để sẵn sàng đón nhận làn sóng chuyển giao công nghệ 5G mới.

Khi 5G được phổ cập rộng rãi, nhà máy của bạn đã sẵn sàng hạ tầng kết nối để đạt hiệu suất hoạt động cao hơn. Nhưng đó cũng là lúc cần suy nghĩ tới các vấn đề lỗ hổng và bảo mật có thể xảy ra. Hãy cân nhắc cách tiếp cận tốt nhất để kích hoạt các ứng dụng và dịch vụ mới.

Smart Factory: Sẵn sàng chuyển giao công nghệ mới với mạng 5G
Nguồn: hpe.com

Theo Jeff Edlund, Giám đốc công nghệ về tổ chức giải pháp và phương tiện truyền thông tại Hewlett Packard Enterprise, các chính sách kiểm soát bảo mật có thể được thực hiện ở mức ứng dụng và dịch vụ của 5G, tiếp cận một cách sát sao hơn so với những gì thường thấy ở Wi-Fi. Ngoài ra, mạng 5G sử dụng mã hóa 256-bit giúp danh tính và vị trí của người dùng đều được bảo mật tốt hơn so với mạng 4G LTE với mã hóa 128-bit.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất có thể liên hệ với Hewlett Packard Enterprise để được tư vấn về cơ sở hạ tầng CNTT trong nhà máy, đảm bảo tính tương thích và khả năng kết nối, giúp việc triển khai 5G đơn giản và dễ dàng hơn. Theo chân những doanh nghiệp tiên phong tiêu biểu, để quan sát, học hỏi và chuẩn bị là cách để đưa tổ chức đến với mạng 5G dù sớm hay muộn.

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp IT cho nhà máy thông minh tại website:https://manufacturingdx.com

An Nhiên

VỐN FDI VÀO VIỆT NAM NĂM 2021 TĂNG MẠNH

Ngay từ những ngày đầu năm 2021, hàng loạt dự án FDI lớn được trao giấy chứng nhận đầu tư. Các chuyên gia nhận định, năm 2021, dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ tăng mạnh.

Bộ KH&ĐT tổ chức nhiều cuộc xúc tiến đầu tư thông qua hình thức trực tuyến với các đối tác châu Âu, châu Á (Nhật Bản, Singapore).Thông qua cuộc tiếp xúc đầu tư, nhiều tập đoàn lớn như Apple, Foxconn, Luxshare triển khai kế hoạch gia tăng đặt hàng nhà cung ứng và gia tăng hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) cho thấy, trong tháng 1/2021, tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 2,02 tỷ USD. Trong đó, vốn thực hiện đạt 1,51 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Cả nước đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 47 dự án mới, điều chỉnh tăng vốn cho 46 lượt dự án và cấp phép cho gần 200 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Với thành tích trong kiểm soát, khống chế dịch bệnh, ngay những ngày đầu năm 2021, các địa  phương đã đồng loạt trao giấy chứng nhận đầu tư cho nhiều dự án FDI lớn. Ngày 18/1, UBND tỉnh Bắc Giang trao giấy chứng nhận đầu tư dự án Nhà máy Fukang Technology ở Khu công nghiệp Quang Châu (Việt Yên, Bắc Giang) cho Tập đoàn Foxconn Singapore Pte Ltd. Theo kế hoạch, Fukang sẽ sản xuất, gia công máy tính bảng và máy tính xách tay, với quy mô hơn 8 triệu sản phẩm/năm. Với tổng vốn đầu tư 270 triệu USD, dự kiến dự án sẽ hoạt động vào quý 3/2022. Đây là một trong những bước mở rộng hoạt động tại Việt Nam của Tập đoàn Foxconn. Đến cuối năm 2020, Foxconn đã đầu tư tại Việt Nam 1,5 tỷ USD.

Cũng ngay trong tháng 1/2021, tỉnh Quảng Bình trao quyết định chủ trương đầu tư 14 dự án với tổng vốn khoảng 1 tỷ USD và ký biên bản ghi nhớ hợp tác 23 dự án cho 18 nhà đầu tư. Tỉnh Nghệ An trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Công ty TNHH Công nghệ EverwinPrecision Việt Nam. Dự án có tổng mức đầu tư 200 triệu USD, tại Khu Công nghiệp đô thị và Dịchvụ VSIP Nghệ An, dự kiến sẽ thu hút 15.000 lao động. Tỉnh Đồng Nai thu hút được 11 dự án FDI, trong đó có 3 dự án cấp mới, 8 dự án tăng vốn với tổng số vốn hơn 226 triệu USD. Đây là con số cao nhất so với cùng kỳ khoảng 5 năm qua.

Với kết quả khởi sắc ngay từ những ngày đầu năm, các chuyên gia cho rằng, tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2021 sẽ cao hơn mức 28,5 tỷ USD (vốn đăng ký) và 19,9 tỷ USD (vốn thực hiện) như mục tiêu đã đề ra.

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGÀNH SẢN XUẤT: NHỮNG THÁCH THỨC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã “giáng đòn chí tử” vào nền kinh tế, đẩy lùi đà phát triển của đa số ngành công nghiệp. Cú sốc này đã làm biến mất hàng triệu doanh nghiệp trên toàn thế giới. Nhưng ở một khía cạnh tích cực khác, sự khốc liệt này lại thay đổi việc vận hành kinh tế cũng như dịch chuyển đầu tư giữa các quốc gia.

Các tập đoàn lớn trên thế giới đưa ra kế hoạch dịch chuyển đầu tư sản xuất từ các quốc gia có nguy cơ dịch bệnh cao sang các nước có môi trường đầu tư an toàn hơn. Việt Nam hiện đang là điểm đến sáng giá trong các bản kế hoạch như vậy. Nhưng làm thế nào để thắng được trên trường quốc tế? Đó không chỉ là bài toán của môi trường đầu tư an toàn mà còn là vấn đề nội lực doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030″ với tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. Điều này đánh thức các doanh nghiệp trong các lĩnh vực từ tài chính ngân hàng, đến y tế, giáo dục và tất nhiên không thể thiếu các doanh nghiệp sản xuất – nền tảng của mọi nền công nghiệp.

Tuy nhiên, một thực tế dễ thấy, dù đồng lòng với mục tiêu xây dựng doanh nghiệp số Việt Nam đủ năng lực đi ra toàn cầu, không ít doanh nghiệp sản xuất không biết bắt đầu từ đâu.

Có thể thấy những thách thức mà các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang phải đối mặt, khi mà công nghệ đang thay đổi mỗi ngày, và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trước tiên, phải kể đến bài toán chi phí. Khi quyết định chuyển đổi số, doanh nghiệp chấp nhận thay đổi quy trình, hệ thống, và cả con người. Điều này đòi hỏi một ngân sách đủ lớn để làm đồng bộ, toàn diện, không chắp vá. Khi chưa nhìn thấy một kết quả rõ ràng, việc đầu tư một ngân sách lớn cho hệ thống khiến chủ doanh nghiệp không khỏi lo lắng.

Tiếp theo là những thách thức về thay đổi tư duy ngay trong doanh nghiệp. Chuyển đổi số không phải là câu chuyện riêng của công nghệ mà là bài toán khó của chính con người, những người làm chủ và vận hành doanh nghiệp. Cho dù sở hữu một hệ thống tiên tiến, hiện đại, nhưng tư duy lối mòn lại trở thành rào cản khiến công nghệ không được khai thác và ứng dụng hiệu quả. Bởi vậy, không ngừng học hỏi là không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn vượt qua rào cản về tư duy.

Cuối cùng, lựa chọn công nghệ phù hợp với doanh nghiệp của mình chính là thách thức lớn thứ ba mà doanh nghiệp phải đối mặt. Những câu chuyện về công nghệ mới cho ngành sản xuất như AI, machine learning, IoT hay Cloud đang tràn ngập trên mặt báo. Nhưng chính giải pháp chuyên sâu, cải tiến liên tục và sự lựa chọn từ quá nhiều nhà cung cấp lại khiến chủ doanh nghiệp phải băn khoăn. Làm thế nào để có giải pháp phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình?

Có thể nói, đây chính là những rào cản lớn nhất khiến các nhà máy sản xuất tại Việt Nam loay hoay tìm cách cải tiến và chuyển đổi.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 1.

Trong hội nghị bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh ngày 28.01, chuyên gia của Hewlett Packard Enterprise đã chia sẻ với các cơ quan bộ ban ngành và lãnh đạo cấp cao tới từ các tập đoàn lớn: “Trước khi vội vàng tìm cách đi trước, dẫn đầu, doanh nghiệp cần phải giải quyết những vấn đề đang tồn tại, từ đó xây dựng giải pháp tối ưu căn cứ vào đặc thù riêng của mình”.

Cụ thể, doanh nghiệp cần có chiến lược chuyển đổi rõ ràng. Điều này có nghĩa là gì? Hãy vạch ra kế hoạch chi tiết cho hành trình chuyển đổi số trong nhà máy sản xuất của mình. Nó sẽ diễn ra trong bao lâu, qua những giai đoạn nào và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp là gì? Hãy lượng hóa mọi tiêu chí, để có một thước đo rõ ràng nhất, thay vì chìm đắm trong viễn cảnh mơ hồ.

Khi đã vẽ được bức tranh tổng thể về hành trình mình sẽ đi, hãy vạch ra phương án tiếp cận theo từng giai đoạn. Căn cứ vào đặc điểm đặc thù của chính doanh nghiệp mình để chia nhỏ các giai đoạn chuyển đổi cho phù hợp. Việc này giúp nhân lực trong nhà máy dễ dàng nhận biết và thích nghi hơn, doanh nghiệp không phải chịu áp lực quá lớn về chi phí ngay từ đầu.

Thu nạp nhân tài trong lĩnh vực CNTT là một yếu tố quan trọng quyết định thành công chuyển đổi số. Bởi lẽ rõ ràng, một hệ thống hiện đại đòi hỏi vận hành bởi những bộ óc đủ thông minh. Một hệ thống sản xuất tự động hóa đòi hỏi một hạ tầng IT đủ mạnh mẽ.

Những công nghệ tiên tiến nhất trong ngành sản xuất, sẽ giúp doanh nghiệp tăng tốc trong hành trình chuyển đổi, tạo năng lực cạnh tranh vượt trội. Ngày nay, data là nguồn sống của doanh nghiệp, vì vậy hãy tận dụng và khai thác tối đa. Thay thế việc bảo trì hệ thống thủ công, theo thời gian định trước bằng việc cập nhật và sửa lỗi tự động, xác định vấn đề trước khi nó xảy ra với công nghệ IoT và deep machine learning.

Chuyển đổi số không phải câu chuyện của riêng quốc gia, ngành nghề hay doanh nghiệp nào. Bản thân HPE trong những năm vừa qua cũng đang không ngừng cải tiến, phát triển, và thử nghiệm để sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI và IoT. Khi đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất như Daido, Seagate hay Leica,…HPE đã xây dựng những giải pháp IT riêng để giải quyết những vấn đề đặc thù mà từng doanh nghiệp đang gặp phải.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 2.

Seagate kết hợp CNTT và OT với hệ thống HPE Apollo, hệ thống hội tụ Edgeline và dịch vụ AI từ HPE Pointnext Services để thúc đẩy việc ra quyết định và đem lại hiệu quả tốt nhất cho chất lượng sản phẩm và hiệu quả quy trình. Trong khi đó, Leica lại cần đến hệ thống máy chủ HPE Moonshot, Moonshot Cartridges và ứng dụng ảo hóa Citrix để quản trị cơ sở hạ tầng tập trung và đơn giản trong trung tâm dữ liệu giúp giảm chi phí một cách lâu bền.

Như vậy, căn cứ vào vấn đề và mục tiêu của từng doanh nghiệp, sẽ có những giải pháp phù hợp khác nhau trên hành trình chuyển đổi số. Mọi vấn đề đều có lời giải đáp, chỉ cần hỏi đúng người. Vượt qua thách thức chính là lúc để lại đối thủ của mình ở phía sau. Bắt đầu hành trình chuyển đổi số ngay hôm nay!

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất của HPE tại Website: manufacturingdx.com

Ánh Dương (theo Nhịp sống kinh tế)

Nguồn: https://cafef.vn/chuyen-doi-so-trong-nganh-san-xuat-nhung-thach-thuc-cho-doanh-nghiep-viet-nam-2021013018420568.chn

NHÀ MÁY SỐ – CHÌA KHÓA ĐỂ BẮT KỊP TỐC ĐỘ THAY ĐỔI CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THỜI ĐẠI 4.0

Số hóa dữ liệu, quản trị sản xuất thông minh là 2 yếu tố chính đánh giá mức độ thay đổi của các nhà máy sản xuất công nghiệp theo xu hướng hòa nhập CMCN 4.0.

Số hóa dữ liệu và quản trị sản xuất thông minh
Đây là 2 yếu tố chính để đánh giá mức độ thay đổi của các nhà máy sản xuất công nghiệp theo xu hướng hòa nhập CMCN 4.0.
Theo các chuyên gia công nghệ, việc ứng dụng hệ thống số hóa trong lưu trữ, quản lý và giám sát dữ liệu vận hành sản xuất sẽ đáp ứng nhu cầu số hóa nhà máy, số hóa hệ quản trị và điều hành sản xuất từ cấp lãnh đạo công ty, lãnh đạo nhà máy đến các phòng ban, phân xưởng; hệ thống quản trị điều hành tiên tiến, trực quan, online và theo thời gian thực giúp rút ngắn và giảm tối đa thời gian lập báo cáo, thời gian lập kế hoạch, cung cấp số liệu để đáp ứng kịp thời công tác giám sát, quản lý và điều hành của các nhà máy sản xuất; góp phần thúc đẩy, nâng cấp để hiện đại hóa hệ thống điều khiển, tối ưu hóa quá trình sản xuất, đáp ứng nhu cầu tăng năng suất và chất lượng, phát triển kinh doanh; hệ thống quản trị sản xuất thông minh có độ tin cậy và hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu thực tế của mọi ngành sản xuất; hệ thống có khả năng giao tiếp mở với các hệ thống khác, được phát triển liên tục cho nhu cầu số hóa.
Hệ thống số hóa, lưu trữ, quản lý và giám sát dữ liệu vận hành sản xuất là một hệ thống hội đủ 4 yếu tố: kho dữ liệu số cần thiết sử dụng chung cho doanh nghiệp; xây dựng ứng dụng hiển thị các thông số vận hành và các trang vận hành chính để theo dõi, giám sát trực tuyến; dữ liệu sản xuất sẽ được lọc tự động, lưu trữ và hiển thị theo thời gian thực, kết nối trực tuyến từ các hệ thống điều khiển quá trình, từ các phòng ban và các hệ thống dữ liệu khác để đảm bảo tính khách quan, minh bạch; và cuối cùng là hệ thống quản trị tiên tiến phục vụ cho các cấp lãnh đạo, quản lý công ty, nhà máy và các phòng ban.
Lấy từ ví dụ số hóa nhà máy sản xuất của Siemens XHQ. Trong hệ thống sản xuất, cấu trúc số sẽ được chia làm 4 lớp gồm kết nối, thu thập dữ liệu; quản lý, lưu trữ dữ liệu tập trung; xử lý dữ liệu và xuất dữ liệu sang hệ thống khác; phân tích và khai phá dữ liệu.
Việc số hóa dữ liệu chọn lọc của tất cả các hệ thống sản xuất, bản hành bảo trì… có thể xử lý dữ liệu liên tục từ hoạt động sản xuất của nhà máy; khả năng báo cáo và phân tích dữ liệu sản xuất linh động; tối ưu cho việc giám sát vận hành với độ tin cậy cao; thể hiện được sự liên kết trao đổi dữ liệu giữa các phòng ban và những công việc cần thực hiện để cải thiện sự hợp tác; hệ thống đảm bảo các tính năng kỹ thuật làm nền tảng để tiếp tục triển khai các bước số hóa trong thời gian tiếp theo.
Theo chuyên gia Nhà máy số ESTEC, ông Vương Ngọc Hoàng Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ giữ vai trò cốt lõi thì việc số hóa hệ thống sản xuất, quản trị và điều hành sản xuất được xem là xu hướng tất yếu và đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp hòa được vào dòng chảy công nghệ 4.0, từ đó, tăng chất lượng sản phẩm và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững”.
Thay đổi để bắt kịp tốc độ thị trường trong thời đại 4.0
Để bắt kịp tốc độ thay đổi của thị trường, chuyển đổi số là con đường tất yếu cho các doanh nghiệp.
Tại Hội thảo ứng dụng công nghệ 4.0 trong điều hành sản xuất kinh doanh, ông Nguyễn Thành Trung – chuyên gia công nghiệp 4.0, cho rằng tốc độ thay đổi của thị trường “đang diễn ra nhanh chưa từng có và khách hàng sẽ hoàn toàn nằm ở vị trí trung tâm”. Nếu như trước đây doanh nghiệp sản xuất dựa trên “cái mình có” thì hiện đang chuyển dần sang “cái người tiêu dùng cần”. Công nghiệp sản xuất đã đạt đến khả năng có thể thực hiện sản phẩm theo yêu cầu riêng biệt của mỗi khách hàng, sản phẩm thể hiện cá tính của người tiêu dùng thay vì sản xuất hàng loạt mà người tiêu dùng không có nhiều sự lựa chọn.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thay đổi cực kỳ nhanh chóng và chuyển đổi số là con đường duy nhất. Công nghiệp kỹ thuật số sẽ giúp các ngành công nghiệp chế biến kết nối thế giới ảo và thực tạo ra dữ liệu hiệu suất, hiện thực hóa và tối ưu hóa sản xuất.
Theo ông Trung, doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật số sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc tối ưu hóa sản xuất bằng việc hiện thực hóa các ý tưởng sản phẩm thông qua các sản phẩm ảo (công nghệ mô phỏng) trải qua khâu sản xuất ảo để đánh giá tính khả thi từ đó hiệu chỉnh để đưa vào sản xuất thực (tự động hóa) và cuối cùng kết thúc là sẽ ra sản phẩm thực tối ưu nhất đáp ứng tối đa yêu cầu của khách hàng với độ chính xác cao nhất.
Các chuyên gia cũng dự báo chỉ trong vòng 10 năm tới, các doanh nghiệp còn tồn tại được sẽ phải đáp ứng các yếu tố: giao hành nhanh chóng, duy trì tốc độ sản xuất kịp xu hướng người tiêu dùng, đảm bảo các giải pháp sản xuất cá nhân hóa trên quy mô lớn, theo dõi được toàn bộ các khâu sản xuất trong chuỗi giá trị và quản lý tuyệt đối tính chính xác của sản phẩm.
Trường Giang
Nguồn: https://congnghiepcongnghecao.com.vn/tin-tuc/t23600/nha-may-so–chia-khoa-de-bat-kip-toc-do-thay-doi-cua-thi-truong-trong-thoi-dai-4-0.html

ĐÒN BẨY GIÚP DOANH NGHIỆP TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ 4.0

Bộ Công Thương đang xây dựng Đề án hỗ trợ doanh nghiệp (DN) ứng dụng công nghệ 4.0 và phát triển sản xuất thông minh đến năm 2030. Đây được xem là đòn bẩy quan trọng giúp DN nhanh chóng tiếp cận và tận dụng cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0. Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Đào Trọng Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công Thương) – về vấn đề này.

Đòn bẩy giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ 4.0
Ông Đào Trọng Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công Thương)

CMCN 4.0 đang mở ra cơ hội to lớn để DN xây dựng thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ông có thể cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?

Tôi hoàn toàn đồng ý và chia sẻ với quan điểm này. Có lẽ không còn phải nghi ngờ gì nữa về những cơ hội do cuộc CMCN 4.0 mang lại cho DN trong việc đổi mới hiện đại hóa công nghệ, nâng cao trình độ, năng lực sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh của các DN. Không chỉ là vấn đề nâng cao hiệu quả hay chất lượng sản phẩm, dịch vụ, việc ứng dụng các công nghệ mang đến cơ hội cho các DN trong việc tạo ra giá trị hoàn toàn mới bằng việc hình thành những sản phẩm, dịch vụ mới, thậm chí những mô hình kinh doanh hoàn toàn mới.

Tôi cho rằng, cuộc CMCN 4.0 không chỉ là vấn đề mang công nghệ nào vào trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các DN nên nhìn nó như một yếu tố, điều kiện mới tác động tới mỗi DN, là một cơ hội để các DN xem lại định hướng phát triển, đưa ra những kế hoạch để hiện thực hóa cơ hội. Tôi tin rằng, nhanh chóng nắm bắt cơ hội, đưa các công nghệ mới vào quá trình sản xuất, kinh doanh, thực hiện chuyển đổi số, DN sẽ có cơ hội để tiến nhanh về phía trước, tạo ra những bước phát triển đột phá.

Vậy ông đánh giá thế nào về mức độ sẵn sàng của DN Việt Nam với cuộc CMCN 4.0? DN Việt đã tận dụng được hết những lợi ích cuộc cách mạng này mang lại hay chưa?

Năm 2017 – 2018, Bộ Công Thương đã tiến hành một cuộc khảo sát, đánh giá mức độ sẵn sàng của các DN sản xuất công nghiệp trong tiếp cận với cuộc CMCN 4.0 dựa trên Bộ chỉ số đánh giá của Hiệp hội công nghiệp chế tạo của Đức. Kết quả khảo sát cho thấy, về cơ bản, các DN có mức tiếp cận thấp ở tất cả các khía cạnh về chiến lược và cơ cấu tổ chức, vận hành thông minh, nhà máy thông minh, sản phẩm thông minh, dịch vụ dựa trên nền tảng dữ liệu và người lao động.

Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng đây là kết quả khảo sát của Bộ Công Thương đã thực hiện ở thời điểm hơn 2 năm trước. Qua làm việc với các DN của Bộ Công Thương thời gian qua, chúng tôi cũng thấy rằng, DN đang rất quan tâm và bắt đầu có những bước đi, kế hoạch để hiện thực hóa. Tôi tin rằng, tại thời điểm này, các DN đã nhìn nhận được những cơ hội cũng như những lợi ích mà cuộc CMCN 4.0 có thể mang lại. Để tận dụng được, hay nói cách khác là để trở thành một nhà máy thông minh, một DN số sẽ cần một hành trình dài với quyết tâm của DN cũng như vai trò đòn bẩy, hỗ trợ từ phía nhà nước.

Phát triển nhà máy số chính là tâm điểm của cuộc CMCN 4.0 và đây cũng là định hướng ưu tiên lớn của ngành Công Thương. Xin ông chia sẻ về những hoạt động hỗ trợ cụ thể của Bộ giúp DN chuyển đổi số thành công?

Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, ứng dụng các công nghệ từ cuộc CMCN 4.0 vào trong hoạt động sản xuất của DN, hỗ trợ DN phát triển sản xuất thông minh, chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Công Thương đã dành nhiều nguồn lực và tập trung triển khai nội dung này. Cụ thể, hỗ trợ xây dựng các mô hình điểm về sản xuất thông minh trong các lĩnh vực: Cơ khí, nhựa, điện tử, bia, logistics. Các nội dung đó đã được chúng tôi triển khai lồng ghép trong các chương trình khoa học – công nghệ cấp Bộ Công Thương và cấp quốc gia cùng với sự tham gia của các DN. Chúng tôi hy vọng kết quả triển khai những mô hình sẽ được đánh giá, nhân rộng cho các DN trong ngành.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm hỗ trợ, kết nối DN trong nước với các DN có thế mạnh trong phát triển và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp 4.0. Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Công Thương đã hợp tác cùng Tập đoàn Siemens của Đức để hỗ trợ điểm một số DN thực hiện việc đánh giá mức độ sẵn sàng trong phát triển nhà máy thông minh; từng bước hỗ trợ DN xây dựng kế hoạch và lộ trình để thực hiện chuyển đổi số.

Đặc biệt, Bộ Công Thương đang triển khai xây dựng Đề án hỗ trợ DN ứng dụng công nghệ 4.0 và phát triển sản xuất thông minh đến năm 2030. Thiết kế nội dung của đề án sẽ tập trung cụ thể hóa những hoạt động hỗ trợ cũng như việc xây dựng năng lực, hình thành hệ sinh thái phục vụ phát triển sản xuất thông minh cho các DN ngành Công Thương.

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Nga

Nguồn: https://congthuong.vn/don-bay-giup-doanh-nghiep-tiep-can-cong-nghe-40-151169.html

Đăng ký nhận thông tin