SMART FACTORY: SẴN SÀNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ MỚI VỚI MẠNG 5G

Mới đây, cả 3 nhà mạng lớn tại Việt Nam là VinaPhone, Viettel và MobiFone đã đồng loạt công bố việc phát sóng và cung cấp thử nghiệm mạng 5G thương mại. 

Trước xu thế dịch chuyển đầu tư FDI của các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới, Việt Nam đang là điểm đến sáng giá để đầu tư sản xuất. Đây chính là thời điểm quan trọng để các doanh nghiệp học hỏi và ứng dụng công nghệ vào hệ thống nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh.

Smart Factory: Sẵn sàng chuyển giao công nghệ mới với mạng 5G

Yêu cầu kết nối trong nhà máy thông minh

Đặc điểm quan trọng nhất của một nhà máy thông minh là việc kết nối. Smart Factory yêu cầu các quá trình sản xuất cơ bản và nguyên vật liệu cần phải được kết nối để tạo ra các dữ liệu cần thiết giúp đưa ra quyết định kịp thời.

Các nhà máy trước đây chứa rất nhiều máy móc, mỗi thiết bị thực hiện một nhiệm vụ riêng biệt. Trong khi đó, nhà máy thông minh tập hợp các thiết bị này tạo thành một mạng lưới nhiều lớp chia sẻ dữ liệu. Lớp thấp nhất kiểm soát chức năng của từng máy riêng lẻ (Machine), lớp ở giữa kết nối các thiết bị trong cùng hệ thống nhà xưởng, và lớp cao nhất, được gọi là cấp doanh nghiệp, kiểm soát toàn bộ hệ thống sản xuất (MES). Lớp trên cùng này không chỉ tập hợp sản xuất mà còn kiểm soát chuỗi cung ứng, nhu cầu bảo trì và hậu cần của toàn bộ cơ sở để kết nối các hoạt động một cách hoàn hảo trong các ứng dụng công nghiệp khắt khe ngày nay.

Nhờ vậy, smart factory có thể chia sẻ thông tin lên và xuống của tổ chức. Máy móc có thể truy xuất và xử lý dữ liệu liên tục về hiện trạng và giúp dự đoán các yêu cầu bảo trì. Việc sử dụng nguyên liệu thô có thể được theo dõi trong thời gian thực, cho phép hệ thống ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt và dừng dây chuyền. Luồng dữ liệu cũng cho phép nhà sản xuất thực hiện các thay đổi nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Nguồn: https://www.biendongco.vn/

Mạng 5G mang đến cho các nhà sản xuất cơ hội xây dựng nhà máy thông minh và khai thác các công nghệ như tự động hóa (Automation), AI, AR và IoT(Internet of Things).

Công nghệ 5G mới sẽ cách mạng hóa môi trường sản xuất, nhưng yêu cầu hệ thống phần cứng phải phát triển tương ứng với các cảm biến đủ mạnh và đảm bảo tính đơn giản, dễ dàng lắp đặt, bảo trì. Bên cạnh đó, hạ tầng cần phải đáp ứng yêu cầu kết nối liên tục, giảm thiểu độ trễ và đảm bảo an toàn dữ liệu doanh nghiệp, bao gồm cả an ninh mạng và vật lý.

Vai trò của mạng 5G trong nhà máy thông minh

Các nhà sản xuất lớn đã nhanh chóng nhận thấy những triển vọng hấp dẫn mà 5G có thể mang lại như băng thông cao, tính di động, thân thiện với IoT và bảo mật.

“Với 5G, hiệu suất được cải thiện vượt bậc, bạn hoàn toàn có thể sử dụng nó để thay thế mạng có dây truyền thống. Đó chính là giải pháp tuyệt vời cho nhà máy của bạn” – Patrick Filkins – Nhà phân tích và nghiên cứu cấp cao tại IDC cho hay.

Có lẽ, lợi ích rõ ràng nhất mà 5G mang lại cho các nhà sản xuất là, giống như Wi-Fi, chúng ta có thể xây dựng nhà máy mà không cần đến hệ thống dây cáp, một khoản đầu tư khá tốn kém. Trong khi vẫn đảm bảo việc cung cấp băng thông mạng, phát hiện các trở ngại ảnh hưởng đến tính di động, cấu hình lại robots và dây chuyền lắp ráp khi các dòng sản phẩm được cải tiến.

5G cùng hệ thống Wi-Fi sẽ loại bỏ các dây cáp phức tạp, giảm chi phí vận hành và tăng khả năng thích ứng với băng thông cao và độ trễ cực thấp, ước tính có tốc độ nhanh gấp 100 lần mạng 4G LTE. Công nghệ này cho thấy hiệu quả rõ rệt nhất với các hệ thống điều khiển và tự động hóa công nghiệp, hệ thống thiết kế và lập kế hoạch, các thiết bị hiện trường.

Lời khuyên cho các doanh nghiệp sản xuất muốn ứng dụng 5G

Chia sẻ từ ông Lê Bá Tân, Phó tổng giám đốc công ty Mạng lưới Viettel, phải tới năm 2023-2025, mạng 5G mới phổ biến được như 4G do độ phủ còn hạn hẹp và cần xây dựng thêm nhiều trạm phát sóng mới. Như vậy, đây là thời điểm thích hợp để các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam chuẩn bị để sẵn sàng đón nhận làn sóng chuyển giao công nghệ 5G mới.

Khi 5G được phổ cập rộng rãi, nhà máy của bạn đã sẵn sàng hạ tầng kết nối để đạt hiệu suất hoạt động cao hơn. Nhưng đó cũng là lúc cần suy nghĩ tới các vấn đề lỗ hổng và bảo mật có thể xảy ra. Hãy cân nhắc cách tiếp cận tốt nhất để kích hoạt các ứng dụng và dịch vụ mới.

Smart Factory: Sẵn sàng chuyển giao công nghệ mới với mạng 5G
Nguồn: hpe.com

Theo Jeff Edlund, Giám đốc công nghệ về tổ chức giải pháp và phương tiện truyền thông tại Hewlett Packard Enterprise, các chính sách kiểm soát bảo mật có thể được thực hiện ở mức ứng dụng và dịch vụ của 5G, tiếp cận một cách sát sao hơn so với những gì thường thấy ở Wi-Fi. Ngoài ra, mạng 5G sử dụng mã hóa 256-bit giúp danh tính và vị trí của người dùng đều được bảo mật tốt hơn so với mạng 4G LTE với mã hóa 128-bit.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất có thể liên hệ với Hewlett Packard Enterprise để được tư vấn về cơ sở hạ tầng CNTT trong nhà máy, đảm bảo tính tương thích và khả năng kết nối, giúp việc triển khai 5G đơn giản và dễ dàng hơn. Theo chân những doanh nghiệp tiên phong tiêu biểu, để quan sát, học hỏi và chuẩn bị là cách để đưa tổ chức đến với mạng 5G dù sớm hay muộn.

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp IT cho nhà máy thông minh tại website:https://manufacturingdx.com

An Nhiên

VỐN FDI VÀO VIỆT NAM NĂM 2021 TĂNG MẠNH

Ngay từ những ngày đầu năm 2021, hàng loạt dự án FDI lớn được trao giấy chứng nhận đầu tư. Các chuyên gia nhận định, năm 2021, dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ tăng mạnh.

Bộ KH&ĐT tổ chức nhiều cuộc xúc tiến đầu tư thông qua hình thức trực tuyến với các đối tác châu Âu, châu Á (Nhật Bản, Singapore).Thông qua cuộc tiếp xúc đầu tư, nhiều tập đoàn lớn như Apple, Foxconn, Luxshare triển khai kế hoạch gia tăng đặt hàng nhà cung ứng và gia tăng hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) cho thấy, trong tháng 1/2021, tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 2,02 tỷ USD. Trong đó, vốn thực hiện đạt 1,51 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Cả nước đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 47 dự án mới, điều chỉnh tăng vốn cho 46 lượt dự án và cấp phép cho gần 200 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Với thành tích trong kiểm soát, khống chế dịch bệnh, ngay những ngày đầu năm 2021, các địa  phương đã đồng loạt trao giấy chứng nhận đầu tư cho nhiều dự án FDI lớn. Ngày 18/1, UBND tỉnh Bắc Giang trao giấy chứng nhận đầu tư dự án Nhà máy Fukang Technology ở Khu công nghiệp Quang Châu (Việt Yên, Bắc Giang) cho Tập đoàn Foxconn Singapore Pte Ltd. Theo kế hoạch, Fukang sẽ sản xuất, gia công máy tính bảng và máy tính xách tay, với quy mô hơn 8 triệu sản phẩm/năm. Với tổng vốn đầu tư 270 triệu USD, dự kiến dự án sẽ hoạt động vào quý 3/2022. Đây là một trong những bước mở rộng hoạt động tại Việt Nam của Tập đoàn Foxconn. Đến cuối năm 2020, Foxconn đã đầu tư tại Việt Nam 1,5 tỷ USD.

Cũng ngay trong tháng 1/2021, tỉnh Quảng Bình trao quyết định chủ trương đầu tư 14 dự án với tổng vốn khoảng 1 tỷ USD và ký biên bản ghi nhớ hợp tác 23 dự án cho 18 nhà đầu tư. Tỉnh Nghệ An trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Công ty TNHH Công nghệ EverwinPrecision Việt Nam. Dự án có tổng mức đầu tư 200 triệu USD, tại Khu Công nghiệp đô thị và Dịchvụ VSIP Nghệ An, dự kiến sẽ thu hút 15.000 lao động. Tỉnh Đồng Nai thu hút được 11 dự án FDI, trong đó có 3 dự án cấp mới, 8 dự án tăng vốn với tổng số vốn hơn 226 triệu USD. Đây là con số cao nhất so với cùng kỳ khoảng 5 năm qua.

Với kết quả khởi sắc ngay từ những ngày đầu năm, các chuyên gia cho rằng, tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2021 sẽ cao hơn mức 28,5 tỷ USD (vốn đăng ký) và 19,9 tỷ USD (vốn thực hiện) như mục tiêu đã đề ra.

THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT HÀNG HÓA TIẾN TỚI SẢN XUẤT THÔNG MINH

Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển nhận định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa tiến tới sản xuất thông minh làm thay đổi hoàn toàn ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa.

Ban Kinh tế Trung ương vừa cùng với Tập đoàn IEC và Tập đoàn Hewlett-Packard Enterprise (HPE) phối hợp tổ chức Hội nghị Bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh với chủ đề “Đón đầu làn sóng đầu tư và phát triển nhà máy thông minh trong bối cảnh bình thường mới”.

Hội nghị do ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương chủ trì và được triển khai trực tuyến tới 20 điểm cầu với sự tham dự của trên 50 đại biểu đại diện Văn phòng Chính phủ và các bộ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Khoa học và công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng và lãnh đạo 20 doanh nghiệp đầu ngành ở Việt Nam trên các lĩnh vực như dệt may, khoáng sản, năng lượng, ô tô, thực phẩm, điện tử, tiêu dùng, công nghệ,… Ông Hà Minh Hiệp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã tham gia điều phối phần trao đổi của Hội nghị.

Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương chủ trì Hội nghị.

Đây là Hội nghị khởi động trong chuỗi các hội nghị, tọa đàm, diễn đàn cấp cao do Ban Kinh tế Trung ương chủ trì để triển khai sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 về “Định hướng xây dựng chính sách công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và 2 năm triển khai Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Phát biểu khai mạc và đề dẫn Hội nghị, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển nhận định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa tiến tới sản xuất thông minh làm thay đổi hoàn toàn ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa.

Sản xuất thông minh với nền tảng dựa trên sự tích hợp máy móc thông minh và robot thế hệ mới, kết nối vạn vật công nghiệp IIoT và các phần mềm, hệ thống tích hợp đang trở thành một xu thế tất yếu. Nhân tố cốt lõi của sản xuất thông minh là nhà máy thông minh, là hệ thống sản xuất tự động hóa được kết nối và xử lý dữ liệu liên tục từ hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính tự học và thích nghi (nhà máy sản xuất đáp ứng, thích nghi và kết nối).

Ông Hà Minh Hiệp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phát biểu tại Hội nghị.

Sản xuất thông minh với nhân tố cốt lõi nhà máy thông minh đang trở thành động lực phát triển mới của thế giới, các quốc gia đang đẩy nhanh phát triển sản xuất thông minh. Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển cũng đã phân tích, làm rõ các chủ trương của Đảng về phát triển sản xuất thông minh, trong đó có nhà máy thông minh nêu tại Nghị quyết 23 và Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á, ông Nguyễn Đức Hiển đề nghị các chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp tập trung trao đổi 4 nhóm vấn đề trọng tâm: (1) Nhận diện tiềm năng, cơ hội đầu tư phát triển sản xuất thông minh (nhà máy thông minh, nhà máy số, ứng dụng công nghệ thông minh vào sản xuất kinh doanh), nhất là lĩnh vực sản xuất chế tạo tại Việt Nam; (2) Nhận diện khó khăn, thách thức đối với doanh nghiệp ngành sản xuất trong quá trình chuyển đổi số tiến tới sản xuất thông minh (quy trình sản xuất, xây dựng nhà máy thông minh, nhân lực, công nghệ…) và vấn đề quản trị rủi ro khi hầu hết các khâu của quá trình sản xuất đều được tự động hóa…; (3) Trao đổi các mô hình, kinh nghiệm điển hình về triển khai sản xuất thông minh, nhà máy thông minh; (4) Các vấn đề về thể chế, chính sách cũng cần được tháo gỡ để để thúc đẩy sản xuất thông minh, nhà máy thông minh tại Việt Nam.

Quang cảnh Hội nghị.       

Tại Hội nghị, ông Tariq Shallwani, Giám đốc Kinh doanh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của HPE đã có báo cáo chính trao đổi về kinh nghiệm quốc tế trong chuyển đổi số ngành sản xuất. Sau đó, đã có 15 đại biểu đại diện các bộ, ngành Trung ương và doanh nghiệp tham gia trao đổi xung quanh 4 nhóm vấn đề được Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển gợi ý.

Kết luận Hội nghị, ông Nguyễn Đức Hiển đã giao Vụ Công nghiệp, Ban Kinh tế Trung ương tổng hợp, chắt lọc các ý kiến tại Hội nghị để phục vụ xây dựng đề cương, kế hoạch và triển khai xây dựng báo cáo sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23 và Nghị quyết 52.

Bảo Lâm

Nguồn: http://vietq.vn/thuc-day-qua-trinh-san-xuat-hang-hoa-tien-toi-san-xuat-thong-minh-d183319.html

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGÀNH SẢN XUẤT: NHỮNG THÁCH THỨC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã “giáng đòn chí tử” vào nền kinh tế, đẩy lùi đà phát triển của đa số ngành công nghiệp. Cú sốc này đã làm biến mất hàng triệu doanh nghiệp trên toàn thế giới. Nhưng ở một khía cạnh tích cực khác, sự khốc liệt này lại thay đổi việc vận hành kinh tế cũng như dịch chuyển đầu tư giữa các quốc gia.

Các tập đoàn lớn trên thế giới đưa ra kế hoạch dịch chuyển đầu tư sản xuất từ các quốc gia có nguy cơ dịch bệnh cao sang các nước có môi trường đầu tư an toàn hơn. Việt Nam hiện đang là điểm đến sáng giá trong các bản kế hoạch như vậy. Nhưng làm thế nào để thắng được trên trường quốc tế? Đó không chỉ là bài toán của môi trường đầu tư an toàn mà còn là vấn đề nội lực doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030″ với tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. Điều này đánh thức các doanh nghiệp trong các lĩnh vực từ tài chính ngân hàng, đến y tế, giáo dục và tất nhiên không thể thiếu các doanh nghiệp sản xuất – nền tảng của mọi nền công nghiệp.

Tuy nhiên, một thực tế dễ thấy, dù đồng lòng với mục tiêu xây dựng doanh nghiệp số Việt Nam đủ năng lực đi ra toàn cầu, không ít doanh nghiệp sản xuất không biết bắt đầu từ đâu.

Có thể thấy những thách thức mà các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang phải đối mặt, khi mà công nghệ đang thay đổi mỗi ngày, và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trước tiên, phải kể đến bài toán chi phí. Khi quyết định chuyển đổi số, doanh nghiệp chấp nhận thay đổi quy trình, hệ thống, và cả con người. Điều này đòi hỏi một ngân sách đủ lớn để làm đồng bộ, toàn diện, không chắp vá. Khi chưa nhìn thấy một kết quả rõ ràng, việc đầu tư một ngân sách lớn cho hệ thống khiến chủ doanh nghiệp không khỏi lo lắng.

Tiếp theo là những thách thức về thay đổi tư duy ngay trong doanh nghiệp. Chuyển đổi số không phải là câu chuyện riêng của công nghệ mà là bài toán khó của chính con người, những người làm chủ và vận hành doanh nghiệp. Cho dù sở hữu một hệ thống tiên tiến, hiện đại, nhưng tư duy lối mòn lại trở thành rào cản khiến công nghệ không được khai thác và ứng dụng hiệu quả. Bởi vậy, không ngừng học hỏi là không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn vượt qua rào cản về tư duy.

Cuối cùng, lựa chọn công nghệ phù hợp với doanh nghiệp của mình chính là thách thức lớn thứ ba mà doanh nghiệp phải đối mặt. Những câu chuyện về công nghệ mới cho ngành sản xuất như AI, machine learning, IoT hay Cloud đang tràn ngập trên mặt báo. Nhưng chính giải pháp chuyên sâu, cải tiến liên tục và sự lựa chọn từ quá nhiều nhà cung cấp lại khiến chủ doanh nghiệp phải băn khoăn. Làm thế nào để có giải pháp phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình?

Có thể nói, đây chính là những rào cản lớn nhất khiến các nhà máy sản xuất tại Việt Nam loay hoay tìm cách cải tiến và chuyển đổi.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 1.

Trong hội nghị bàn tròn cấp cao trực tuyến về sản xuất thông minh ngày 28.01, chuyên gia của Hewlett Packard Enterprise đã chia sẻ với các cơ quan bộ ban ngành và lãnh đạo cấp cao tới từ các tập đoàn lớn: “Trước khi vội vàng tìm cách đi trước, dẫn đầu, doanh nghiệp cần phải giải quyết những vấn đề đang tồn tại, từ đó xây dựng giải pháp tối ưu căn cứ vào đặc thù riêng của mình”.

Cụ thể, doanh nghiệp cần có chiến lược chuyển đổi rõ ràng. Điều này có nghĩa là gì? Hãy vạch ra kế hoạch chi tiết cho hành trình chuyển đổi số trong nhà máy sản xuất của mình. Nó sẽ diễn ra trong bao lâu, qua những giai đoạn nào và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp là gì? Hãy lượng hóa mọi tiêu chí, để có một thước đo rõ ràng nhất, thay vì chìm đắm trong viễn cảnh mơ hồ.

Khi đã vẽ được bức tranh tổng thể về hành trình mình sẽ đi, hãy vạch ra phương án tiếp cận theo từng giai đoạn. Căn cứ vào đặc điểm đặc thù của chính doanh nghiệp mình để chia nhỏ các giai đoạn chuyển đổi cho phù hợp. Việc này giúp nhân lực trong nhà máy dễ dàng nhận biết và thích nghi hơn, doanh nghiệp không phải chịu áp lực quá lớn về chi phí ngay từ đầu.

Thu nạp nhân tài trong lĩnh vực CNTT là một yếu tố quan trọng quyết định thành công chuyển đổi số. Bởi lẽ rõ ràng, một hệ thống hiện đại đòi hỏi vận hành bởi những bộ óc đủ thông minh. Một hệ thống sản xuất tự động hóa đòi hỏi một hạ tầng IT đủ mạnh mẽ.

Những công nghệ tiên tiến nhất trong ngành sản xuất, sẽ giúp doanh nghiệp tăng tốc trong hành trình chuyển đổi, tạo năng lực cạnh tranh vượt trội. Ngày nay, data là nguồn sống của doanh nghiệp, vì vậy hãy tận dụng và khai thác tối đa. Thay thế việc bảo trì hệ thống thủ công, theo thời gian định trước bằng việc cập nhật và sửa lỗi tự động, xác định vấn đề trước khi nó xảy ra với công nghệ IoT và deep machine learning.

Chuyển đổi số không phải câu chuyện của riêng quốc gia, ngành nghề hay doanh nghiệp nào. Bản thân HPE trong những năm vừa qua cũng đang không ngừng cải tiến, phát triển, và thử nghiệm để sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI và IoT. Khi đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất như Daido, Seagate hay Leica,…HPE đã xây dựng những giải pháp IT riêng để giải quyết những vấn đề đặc thù mà từng doanh nghiệp đang gặp phải.

Chuyển đổi số trong ngành sản xuất: Những thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam - Ảnh 2.

Seagate kết hợp CNTT và OT với hệ thống HPE Apollo, hệ thống hội tụ Edgeline và dịch vụ AI từ HPE Pointnext Services để thúc đẩy việc ra quyết định và đem lại hiệu quả tốt nhất cho chất lượng sản phẩm và hiệu quả quy trình. Trong khi đó, Leica lại cần đến hệ thống máy chủ HPE Moonshot, Moonshot Cartridges và ứng dụng ảo hóa Citrix để quản trị cơ sở hạ tầng tập trung và đơn giản trong trung tâm dữ liệu giúp giảm chi phí một cách lâu bền.

Như vậy, căn cứ vào vấn đề và mục tiêu của từng doanh nghiệp, sẽ có những giải pháp phù hợp khác nhau trên hành trình chuyển đổi số. Mọi vấn đề đều có lời giải đáp, chỉ cần hỏi đúng người. Vượt qua thách thức chính là lúc để lại đối thủ của mình ở phía sau. Bắt đầu hành trình chuyển đổi số ngay hôm nay!

Tham khảo thêm thông tin về giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất của HPE tại Website: manufacturingdx.com

Ánh Dương (theo Nhịp sống kinh tế)

Nguồn: https://cafef.vn/chuyen-doi-so-trong-nganh-san-xuat-nhung-thach-thuc-cho-doanh-nghiep-viet-nam-2021013018420568.chn

NHÀ MÁY SỐ – CHÌA KHÓA ĐỂ BẮT KỊP TỐC ĐỘ THAY ĐỔI CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THỜI ĐẠI 4.0

Số hóa dữ liệu, quản trị sản xuất thông minh là 2 yếu tố chính đánh giá mức độ thay đổi của các nhà máy sản xuất công nghiệp theo xu hướng hòa nhập CMCN 4.0.

Số hóa dữ liệu và quản trị sản xuất thông minh
Đây là 2 yếu tố chính để đánh giá mức độ thay đổi của các nhà máy sản xuất công nghiệp theo xu hướng hòa nhập CMCN 4.0.
Theo các chuyên gia công nghệ, việc ứng dụng hệ thống số hóa trong lưu trữ, quản lý và giám sát dữ liệu vận hành sản xuất sẽ đáp ứng nhu cầu số hóa nhà máy, số hóa hệ quản trị và điều hành sản xuất từ cấp lãnh đạo công ty, lãnh đạo nhà máy đến các phòng ban, phân xưởng; hệ thống quản trị điều hành tiên tiến, trực quan, online và theo thời gian thực giúp rút ngắn và giảm tối đa thời gian lập báo cáo, thời gian lập kế hoạch, cung cấp số liệu để đáp ứng kịp thời công tác giám sát, quản lý và điều hành của các nhà máy sản xuất; góp phần thúc đẩy, nâng cấp để hiện đại hóa hệ thống điều khiển, tối ưu hóa quá trình sản xuất, đáp ứng nhu cầu tăng năng suất và chất lượng, phát triển kinh doanh; hệ thống quản trị sản xuất thông minh có độ tin cậy và hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu thực tế của mọi ngành sản xuất; hệ thống có khả năng giao tiếp mở với các hệ thống khác, được phát triển liên tục cho nhu cầu số hóa.
Hệ thống số hóa, lưu trữ, quản lý và giám sát dữ liệu vận hành sản xuất là một hệ thống hội đủ 4 yếu tố: kho dữ liệu số cần thiết sử dụng chung cho doanh nghiệp; xây dựng ứng dụng hiển thị các thông số vận hành và các trang vận hành chính để theo dõi, giám sát trực tuyến; dữ liệu sản xuất sẽ được lọc tự động, lưu trữ và hiển thị theo thời gian thực, kết nối trực tuyến từ các hệ thống điều khiển quá trình, từ các phòng ban và các hệ thống dữ liệu khác để đảm bảo tính khách quan, minh bạch; và cuối cùng là hệ thống quản trị tiên tiến phục vụ cho các cấp lãnh đạo, quản lý công ty, nhà máy và các phòng ban.
Lấy từ ví dụ số hóa nhà máy sản xuất của Siemens XHQ. Trong hệ thống sản xuất, cấu trúc số sẽ được chia làm 4 lớp gồm kết nối, thu thập dữ liệu; quản lý, lưu trữ dữ liệu tập trung; xử lý dữ liệu và xuất dữ liệu sang hệ thống khác; phân tích và khai phá dữ liệu.
Việc số hóa dữ liệu chọn lọc của tất cả các hệ thống sản xuất, bản hành bảo trì… có thể xử lý dữ liệu liên tục từ hoạt động sản xuất của nhà máy; khả năng báo cáo và phân tích dữ liệu sản xuất linh động; tối ưu cho việc giám sát vận hành với độ tin cậy cao; thể hiện được sự liên kết trao đổi dữ liệu giữa các phòng ban và những công việc cần thực hiện để cải thiện sự hợp tác; hệ thống đảm bảo các tính năng kỹ thuật làm nền tảng để tiếp tục triển khai các bước số hóa trong thời gian tiếp theo.
Theo chuyên gia Nhà máy số ESTEC, ông Vương Ngọc Hoàng Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ giữ vai trò cốt lõi thì việc số hóa hệ thống sản xuất, quản trị và điều hành sản xuất được xem là xu hướng tất yếu và đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp hòa được vào dòng chảy công nghệ 4.0, từ đó, tăng chất lượng sản phẩm và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững”.
Thay đổi để bắt kịp tốc độ thị trường trong thời đại 4.0
Để bắt kịp tốc độ thay đổi của thị trường, chuyển đổi số là con đường tất yếu cho các doanh nghiệp.
Tại Hội thảo ứng dụng công nghệ 4.0 trong điều hành sản xuất kinh doanh, ông Nguyễn Thành Trung – chuyên gia công nghiệp 4.0, cho rằng tốc độ thay đổi của thị trường “đang diễn ra nhanh chưa từng có và khách hàng sẽ hoàn toàn nằm ở vị trí trung tâm”. Nếu như trước đây doanh nghiệp sản xuất dựa trên “cái mình có” thì hiện đang chuyển dần sang “cái người tiêu dùng cần”. Công nghiệp sản xuất đã đạt đến khả năng có thể thực hiện sản phẩm theo yêu cầu riêng biệt của mỗi khách hàng, sản phẩm thể hiện cá tính của người tiêu dùng thay vì sản xuất hàng loạt mà người tiêu dùng không có nhiều sự lựa chọn.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thay đổi cực kỳ nhanh chóng và chuyển đổi số là con đường duy nhất. Công nghiệp kỹ thuật số sẽ giúp các ngành công nghiệp chế biến kết nối thế giới ảo và thực tạo ra dữ liệu hiệu suất, hiện thực hóa và tối ưu hóa sản xuất.
Theo ông Trung, doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật số sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc tối ưu hóa sản xuất bằng việc hiện thực hóa các ý tưởng sản phẩm thông qua các sản phẩm ảo (công nghệ mô phỏng) trải qua khâu sản xuất ảo để đánh giá tính khả thi từ đó hiệu chỉnh để đưa vào sản xuất thực (tự động hóa) và cuối cùng kết thúc là sẽ ra sản phẩm thực tối ưu nhất đáp ứng tối đa yêu cầu của khách hàng với độ chính xác cao nhất.
Các chuyên gia cũng dự báo chỉ trong vòng 10 năm tới, các doanh nghiệp còn tồn tại được sẽ phải đáp ứng các yếu tố: giao hành nhanh chóng, duy trì tốc độ sản xuất kịp xu hướng người tiêu dùng, đảm bảo các giải pháp sản xuất cá nhân hóa trên quy mô lớn, theo dõi được toàn bộ các khâu sản xuất trong chuỗi giá trị và quản lý tuyệt đối tính chính xác của sản phẩm.
Trường Giang
Nguồn: https://congnghiepcongnghecao.com.vn/tin-tuc/t23600/nha-may-so–chia-khoa-de-bat-kip-toc-do-thay-doi-cua-thi-truong-trong-thoi-dai-4-0.html

ĐÒN BẨY GIÚP DOANH NGHIỆP TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ 4.0

Bộ Công Thương đang xây dựng Đề án hỗ trợ doanh nghiệp (DN) ứng dụng công nghệ 4.0 và phát triển sản xuất thông minh đến năm 2030. Đây được xem là đòn bẩy quan trọng giúp DN nhanh chóng tiếp cận và tận dụng cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0. Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Đào Trọng Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công Thương) – về vấn đề này.

Đòn bẩy giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ 4.0
Ông Đào Trọng Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công Thương)

CMCN 4.0 đang mở ra cơ hội to lớn để DN xây dựng thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ông có thể cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?

Tôi hoàn toàn đồng ý và chia sẻ với quan điểm này. Có lẽ không còn phải nghi ngờ gì nữa về những cơ hội do cuộc CMCN 4.0 mang lại cho DN trong việc đổi mới hiện đại hóa công nghệ, nâng cao trình độ, năng lực sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh của các DN. Không chỉ là vấn đề nâng cao hiệu quả hay chất lượng sản phẩm, dịch vụ, việc ứng dụng các công nghệ mang đến cơ hội cho các DN trong việc tạo ra giá trị hoàn toàn mới bằng việc hình thành những sản phẩm, dịch vụ mới, thậm chí những mô hình kinh doanh hoàn toàn mới.

Tôi cho rằng, cuộc CMCN 4.0 không chỉ là vấn đề mang công nghệ nào vào trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các DN nên nhìn nó như một yếu tố, điều kiện mới tác động tới mỗi DN, là một cơ hội để các DN xem lại định hướng phát triển, đưa ra những kế hoạch để hiện thực hóa cơ hội. Tôi tin rằng, nhanh chóng nắm bắt cơ hội, đưa các công nghệ mới vào quá trình sản xuất, kinh doanh, thực hiện chuyển đổi số, DN sẽ có cơ hội để tiến nhanh về phía trước, tạo ra những bước phát triển đột phá.

Vậy ông đánh giá thế nào về mức độ sẵn sàng của DN Việt Nam với cuộc CMCN 4.0? DN Việt đã tận dụng được hết những lợi ích cuộc cách mạng này mang lại hay chưa?

Năm 2017 – 2018, Bộ Công Thương đã tiến hành một cuộc khảo sát, đánh giá mức độ sẵn sàng của các DN sản xuất công nghiệp trong tiếp cận với cuộc CMCN 4.0 dựa trên Bộ chỉ số đánh giá của Hiệp hội công nghiệp chế tạo của Đức. Kết quả khảo sát cho thấy, về cơ bản, các DN có mức tiếp cận thấp ở tất cả các khía cạnh về chiến lược và cơ cấu tổ chức, vận hành thông minh, nhà máy thông minh, sản phẩm thông minh, dịch vụ dựa trên nền tảng dữ liệu và người lao động.

Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng đây là kết quả khảo sát của Bộ Công Thương đã thực hiện ở thời điểm hơn 2 năm trước. Qua làm việc với các DN của Bộ Công Thương thời gian qua, chúng tôi cũng thấy rằng, DN đang rất quan tâm và bắt đầu có những bước đi, kế hoạch để hiện thực hóa. Tôi tin rằng, tại thời điểm này, các DN đã nhìn nhận được những cơ hội cũng như những lợi ích mà cuộc CMCN 4.0 có thể mang lại. Để tận dụng được, hay nói cách khác là để trở thành một nhà máy thông minh, một DN số sẽ cần một hành trình dài với quyết tâm của DN cũng như vai trò đòn bẩy, hỗ trợ từ phía nhà nước.

Phát triển nhà máy số chính là tâm điểm của cuộc CMCN 4.0 và đây cũng là định hướng ưu tiên lớn của ngành Công Thương. Xin ông chia sẻ về những hoạt động hỗ trợ cụ thể của Bộ giúp DN chuyển đổi số thành công?

Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, ứng dụng các công nghệ từ cuộc CMCN 4.0 vào trong hoạt động sản xuất của DN, hỗ trợ DN phát triển sản xuất thông minh, chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Công Thương đã dành nhiều nguồn lực và tập trung triển khai nội dung này. Cụ thể, hỗ trợ xây dựng các mô hình điểm về sản xuất thông minh trong các lĩnh vực: Cơ khí, nhựa, điện tử, bia, logistics. Các nội dung đó đã được chúng tôi triển khai lồng ghép trong các chương trình khoa học – công nghệ cấp Bộ Công Thương và cấp quốc gia cùng với sự tham gia của các DN. Chúng tôi hy vọng kết quả triển khai những mô hình sẽ được đánh giá, nhân rộng cho các DN trong ngành.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm hỗ trợ, kết nối DN trong nước với các DN có thế mạnh trong phát triển và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp 4.0. Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Công Thương đã hợp tác cùng Tập đoàn Siemens của Đức để hỗ trợ điểm một số DN thực hiện việc đánh giá mức độ sẵn sàng trong phát triển nhà máy thông minh; từng bước hỗ trợ DN xây dựng kế hoạch và lộ trình để thực hiện chuyển đổi số.

Đặc biệt, Bộ Công Thương đang triển khai xây dựng Đề án hỗ trợ DN ứng dụng công nghệ 4.0 và phát triển sản xuất thông minh đến năm 2030. Thiết kế nội dung của đề án sẽ tập trung cụ thể hóa những hoạt động hỗ trợ cũng như việc xây dựng năng lực, hình thành hệ sinh thái phục vụ phát triển sản xuất thông minh cho các DN ngành Công Thương.

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Nga

Nguồn: https://congthuong.vn/don-bay-giup-doanh-nghiep-tiep-can-cong-nghe-40-151169.html

NHÀ MÁY THÔNG MINH – MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI SỐ CHO DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo nên những thay đổi lớn ở quy mô chưa từng có do sự dịch chuyển của một số yếu tố như cải tiến công nghệ, đặc tính sản xuất và môi trường làm việc. Làn sóng chuyển đổi diễn ra trên toàn cầu và ở hầu hết các ngành trọng yếu. Tại Việt Nam, chiến lược chuyển đổi sang nhà máy thông minh đã và đang làm thay đổi diện mạo ngành sản xuất theo hướng tích cực hơn bao giờ hết.

Có thể thấy, cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất có đặc trưng là đưa ứng dụng kỹ thuật vào ngành sản xuất. Cách mạng lần thứ hai sử dụng điện năng phục vụ sản xuất hàng loạt. Đặc điểm của cách mạng công nghiệp lần ba là sử dụng điện tử và công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất. Còn chìa khóa của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chính là sự cải tiến công nghệ quản lý thông qua internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), và công nghệ điện toán… Đây chính là thời điểm quyết định liệu doanh nghiệp sản xuất nào có thể tổn tại và bứt phá, doanh nghiệp nào sẽ dừng lại phía sau.

Trong nhiều thập kỷ, Hewlett Package Enterprise (HPE) đã không ngừng phát triển các sản phẩm và giải pháp hạ tầng IT cho ngành sản xuất và hiện sở hữu năng lực vượt trội với lợi thế AI & IoT. Nhận thấy những thách thức cũng như cơ hội mà ngành sản xuất ở Việt Nam đang đối mặt, HPE chia sẻ kinh nghiệm triển khai giúp doanh nghiệp sản xuất có những bước đi vững vàng và chắc chắn ngay từ giai đoạn sơ khởi.

Cụ thể, HPE khái quát mô hình quản lý số cho nhà máy qua 3 giai đoạn: Khai thác dữ liệu, Giám sát tình trạng và phân tích dữ liệu, Phân tích dự đoán

Giai đoạn 1: Khai thác dữ liệu

Ở giai đoạn này, dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau được trích xuất, bao gồm dữ liệu từ hệ thống quản lý và cơ sở dữ liệu sản xuất hiện có, cảm biến, SCADAs, PLCs và máy móc được tích hợp vào nền tảng ThingWorx IoT thông qua HPE Edgeline EL300. Nền tảng IoT có thể được vận hành trên cloud hoặc máy chủ vật lý HPE Apollo. Trong đó, HPE Apollo được thiết kế cho các ứng dụng điện toán hiệu suất cao (HPC) bao gồm AI.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe2

MES (Manufacturing Execution System – Hệ thống điều hành sản xuất) là một hệ thống quản lý sản xuất tích hợp tập trung vào giám sát sàn, kiểm soát, hậu cần, theo dõi lịch sử và quản lý chất lượng sản phẩm theo thời gian thực với mục tiêu nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh.

Giai đoạn 2: Giám sát tình trạng và phân tích dữ liệu

Theo dõi điều kiện của dữ liệu có sẵn nhờ vào IoT, trước khi khai thác thông tin để đưa ra điều phối cao hơn ở bước phân tích và dự đoán. Theo dõi tình trạng với giả định rằng sức khỏe máy móc sẽ xấu đi theo thời gian và cuối cùng sẽ bị hỏng.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe3

Các lỗi máy móc thường gặp được xác định bởi các thông số thiết bị giám sát như độ rung, nhiệt độ động cơ và điều kiện môi trường xung quanh. Từ những dữ liệu này có thể phân biệt giữa mòn bánh răng, thiếu bôi trơn vòng trục, lệch trục hay lỗi điện năng…

Để đảm bảo độ tin cậy cao của thiết bị và ngăn chặn thời gian ngừng hoạt động ngoài kế hoạch, việc theo dõi hiệu suất thiết bị đóng vai trò chủ động để có thể lên lịch bảo trì trước khi sự cố xảy ra. Nhờ đó, tránh được những thiệt hại về tiền bạc, thời gian và công sức.

Dữ liệu được phân tích, trực quan hóa và hiển thị cho nhân viên nhà máy trên trang tổng quan trong ứng dụng di động hoặc phần mềm tăng cường thực tế ảo.

Tuy nhiên những báo cáo và hình dung này vẫn còn xa so với dự đoán. Để có dự đoán chính xác, các dữ liệu kết hợp từ các nguồn khác nhau được sử dụng để thiết lập các thuật toán máy học nhằm xác định các mẫu bất thường có thể dẫn đến lỗi thiết bị.

Giai đoạn 3: Phân tích dự đoán

Dự đoán bảo trì dựa trên thông tin chi tiết được trích xuất từ dữ liệu, thu thập được trong điều kiện thiết bị được giám sát liên tục. Các thông số kết hợp về tình trạng thiết bị, điều kiện môi trường, và cài đặt hoạt động được thu thập từ các cảm biến. Dữ liệu này sau đó được kết hợp với cài đặt vận hành, lịch sử dữ liệu trong cơ sở dữ liệu, dữ liệu bảo trì và dịch vụ trong hệ thống ERP. Tập hợp này được đưa vào các thuật toán máy học trên HPE Apollo 6500, từ đó mô hình dự đoán nhận ra sự kết hợp của các mẫu thông số dữ liệu môi trường và tình trạng thiết bị, nhận biết tình trạng khỏe mạnh và có vấn đề, bằng cách phát hiện ra mối tương quan nhân quả trong tập dữ liệu.

Mặt khác, dữ liệu máy học quan trọng được xử lý ở Biên (Edge) và việc ra quyết định được thực hiện ngay tại chỗ. Mô hình dự đoán này được triển khai trên HPE Edgeline EL1000 để dự đoán thời gian thực. Các lỗi tiềm ẩn được phát hiện vào thời gian thực sẽ kích hoạt một thông báo để cảnh báo nhóm bảo trì đồng thời thực hiện khắc phục sự cố thông qua Programmable Logic Controllers (PLCs) dựa trên vòng phản hồi thông tin. Điều này đảm bảo quá trình vận hành không bị gián đoạn nhờ việc phát hiện các lỗi tiềm ẩn thông qua phân tích dự đoán.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe4

Hạ tầng IT của HPE là nền tảng thông minh cho hệ thống vận hành sản xuất kỹ thuật số, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, cụ thể như giảm thiểu chi phí liên quan đến nhân sự bảo trì hệ thống, thiết bị bảo trì dự trữ, ngăn ngừa rủi ro hệ thống ngừng hoạt động ngoài kế hoạch bằng cách dự đoán lỗi thiết bị và lên lịch sửa chữa, bảo trì, đảm bảo an toàn cho người lao động nhờ thông tin từ dữ liệu thu thập tự động.

Theo báo cáo từ khách hàng của HPE, một nhà máy sản xuất theo quy trình đã uớc tính giảm 20% thời gian chết, giảm 50% chi phí bảo trì theo kế hoạch. Trong khi đó, một nhà máy sản xuất hộp đựng thực phẩm có sản lượng tăng tới 45% và giảm tới 50% các vấn đề về chất lượng sản phẩm qua từng năm.

Nhìn chung, việc triển khai IoT và AI thành công với lợi tức đầu tư hợp lý để mở ra những giá trị đích thực của công nghệ đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức ngành (từ chủ doanh nghiệp), phần cứng IoT (HPE), phần mềm (ThingWorx) và dịch vụ chuyên môn (CAD-IT IoT Centre) để thu hẹp khoảng cách từ lý thuyết đến thực tế.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất có vốn FDI đang dẫn đầu xu hướng chuyển đổi sang nhà máy thông minh, tạo ra khác biệt rõ rệt giữa mô hình sản xuất truyền thống và hiện đại. Xu thế chuyển đổi số là điều tất yếu và cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt khi các ứng dụng công nghệ hàng đầu thế giới đều có mặt tại đây.

Nhà máy thông minh - Mô hình chuyển đổi số cho doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam - hpe5

Charles Darwin từng nói: “Để tồn tại, bạn không cần phải là người mạnh mẽ hay thông minh nhất, mà là người thích nghi tốt nhất”. Điều này đặc biệt đúng khi nói đến sự thay đổi nhanh chóng trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Khi mà IoT đã thúc đẩy tăng tốc quá trình với tổng ước tính khoảng 21 tỷ thiết bị được kết nối IoT vào năm 2025. Vậy doanh nghiệp bạn đã sẵn sàng thích nghi và chuyển đổi?

Hewlett Packard Enterprise (HPE) là công ty đa quốc gia của Mỹ chuyên cung cấp sản phẩm và giải pháp công nghệ thông tin cho doanh nghiệp, có tiền thân là Hewlett Packard (HP). Tìm hiểu thêm về giải pháp hạ tầng cho nhà máy thông minh của HPE tại manufacturingdx.com.

Nguồn: https://tgs.vn/iot/nha-may-thong-minh-mo-hinh-chuyen-doi-so-cho-doanh-nghiep-san-xuat-tai-viet-nam/

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG TỪNG NGÀNH, LĨNH VỰC NHƯ THẾ NÀO?

Một số ngành, lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số trước, trong đó, chú trọng tới việc triển khai các sáng kiến nhằm liên kết giữa các ngành, lĩnh vực để cung cấp một trải nghiệm mới, mang lại giá trị cho người dân, doanh nghiệp và xã hội.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế như thế nào?

Phát triển nền tảng hỗ trợ khám, chữa bệnh từ xa để hỗ trợ người dân được khám, chữa bệnh từ xa, giúp giảm tải các cơ sở y tế, hạn chế tiếp xúc đông người, giảm nguy cơ lây nhiễm chéo; 100% các cơ sở y tế có bộ phận khám, chữa bệnh từ xa; thúc đẩy chuyển đổi số ngành y tế.

Xây dựng và từng bước hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh dựa trên các công nghệ số; ứng dụng công nghệ số toàn diện tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh góp phần cải cách hành chính, giảm tải bệnh viện, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, sử dụng hồ sơ bệnh án điện tử tiến tới không sử dụng bệnh án giấy, thanh toán viện phí, hình thành các bệnh viện thông minh; xây dựng nền tảng quản trị y tế thông minh dựa trên công nghệ số, tích hợp thông tin, dữ liệu, hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế.

Chuyển đổi số trong từng ngành, lĩnh vực như thế nào?
Chuyển đổi số trong từng ngành, lĩnh vực như thế nào?

Thử nghiệm triển khai sáng kiến “Mỗi người dân có một bác sĩ riêng” với mục tiêu mỗi người dân có một hồ sơ số về sức khỏe cá nhân, trên cơ sở đó được bác sĩ tư vấn, chăm sóc cho từng người dân như là bác sĩ riêng, hình thành hệ thống chăm sóc y tế số hoàn chỉnh từ khâu chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng đến điều trị.

Tạo hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho khám chữa bệnh từ xa và đơn thuốc điện tử cho người dân, nhằm bảo đảm người dân có thể tiếp xúc bác sỹ nhanh, hiệu quả, giảm chi phí và thời gian vận chuyển bệnh nhân.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục như thế nào?

Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa.

100% các cơ sở giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó thử nghiệm chương trình đào tạo cho phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 20% nội dung chương trình. Triển khai áp dụng mô hình giáo dục tích hợp khoa học – công nghệ – kỹ thuật – toán học và nghệ thuật, kinh doanh, doanh nghiệp, đào tạo tiếng Anh và kỹ năng sử dụng công nghệ số, bảo đảm an toàn, an ninh mạng tại các cấp học. Điều chỉnh, bổ sung chương trình đào tạo ở bậc đại học, sau đại học và dạy nghề các công nghệ số cơ bản như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và Internet vạn vật.

Cung cấp các khóa học đại trà trực tuyến mở cho tất cả người dân nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nhờ công nghệ số, đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng số. Phổ cập việc thi trực tuyến; công nhận giá trị của các chứng chỉ học trực tuyến; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập; phát triển các doanh nghiệp công nghệ phục vụ giáo dục hướng tới đào tạo cá thể hóa.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng như thế nào?

Xây dựng tài chính điện tử và thiết lập nền tảng tài chính số hiện đại, bền vững. Triển khai ứng dụng toàn diện công nghệ số trong các ngành thuế, hải quan, kho bạc, chứng khoán.

Chuyển đổi số trong các ngân hàng thương mại để cung cấp dịch vụ ngân hàng số theo hướng phát triển đa dạng các kênh phân phối, đổi mới sáng tạo, tự động hóa quy trình, thúc đẩy hợp tác với các công ty công nghệ tài chính (fintech) và trung gian thanh toán trong việc xây dựng hệ sinh thái dịch vụ tài chính ngân hàng để thúc đẩy phổ cập tài chính quốc gia, đưa dịch vụ tài chính – ngân hàng đến gần hơn những đối tượng vùng sâu, vùng xa chưa có khả năng tiếp cận hoặc chưa được ngân hàng phục vụ dựa vào sự đổi mới sáng tạo của công nghệ như thanh toán di động, cho vay ngang hàng.

Hỗ trợ khả năng tiếp cận vốn vay nhờ các giải pháp chấm điểm tín dụng với kho dữ liệu khách hàng và mô hình chấm điểm đáng tin cậy.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp như thế nào?

Phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao theo hướng chú trọng nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác, tăng tỷ trọng của nông nghiệp công nghệ số trong nền kinh tế.

Thực hiện chuyển đổi số trong nông nghiệp phải dựa trên nền tảng dữ liệu. Tập trung xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn của ngành như về đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy sản. Xây dựng mạng lưới quan sát, giám sát tích hợp trên không và mặt đất phục vụ các hoạt động nông nghiệp. Thúc đẩy cung cấp thông tin về môi trường, thời tiết, chất lượng đất đai để người nông dân nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, hỗ trợ chia sẻ các thiết bị nông nghiệp qua các nền tảng số.

Ứng dụng công nghệ số để tự động hóa các quy trình sản xuất, kinh doanh; quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm, bảo đảm nhanh chóng, minh bạch, chính xác, an toàn, vệ sinh thực phẩm. Xem xét thử nghiệm triển khai sáng kiến “Mỗi nông dân là một thương nhân, mỗi hợp tác xã là một doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số” với mục tiêu mỗi người nông dân được định hướng, đào tạo ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, cung cấp, phân phối, dự báo (giá, thời vụ, …) nông sản, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử trong nông nghiệp.

Thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong công tác quản lý để có các chính sách, điều hành kịp thời phát triển nông nghiệp như dự báo, cảnh báo thị trường, quản lý quy hoạch.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực giao thông vận tải và kho vận như thế nào?

Phát triển hệ thống giao thông thông minh, tập trung vào các hệ thống giao thông đô thị, các đường cao tốc, quốc lộ. Chuyển đổi các hạ tầng logistics (như cảng biển, cảng thủy nội địa, hàng không, đường sắt, kho vận …).

Phát triển các nền tảng kết nối giữa các chủ hàng, các nhà giao vận và khách hàng để phát triển thành một hệ thống một cửa để cho phép chủ hàng có thể tìm ra phương tiện tối ưu để vận chuyển hàng hóa và tìm các kho bãi chính xác cũng như hỗ trợ việc đóng gói và hỗ trợ đăng ký, hoàn thiện các quá trình xử lý các văn bản hành chính liên quan.

Chuyển đổi việc quản lý kết cấu hạ tầng giao thông, phương tiện kinh doanh vận tải, quản lý người điều khiển phương tiện, cho phép quản lý kết cấu hạ tầng giao thông số, đăng ký và quản lý phương tiện qua hồ sơ số, cấp và quản lý giấy phép số người điều khiển phương tiện.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực năng lượng như thế nào?

Chuyển đổi số trong lĩnh vực năng lượng, trong đó ưu tiên tập trung cho ngành điện lực hướng đến tối đa hóa và tự động hóa các mạng lưới cho việc cung ứng điện một cách hiệu quả. Kết nối các đồng hồ đo điện số để cải thiện tốc độ và sự chính xác của hóa đơn, xác định sự cố về mạng lưới nhanh hơn, hỗ trợ người dùng cách tiết kiệm năng lượng và phát hiện ra các tổn thất, mất mát điện năng.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường như thế nào?

Xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu lớn toàn diện nhằm quản lý hiệu quả lĩnh vực tài nguyên và môi trường, cụ thể như: Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; các cơ sở dữ liệu về nền địa lý quốc gia; quan trắc tài nguyên và môi trường; đa dạng sinh học; nguồn thải; viễn thám; biển và hải đảo; biến đổi khí hậu; khí tượng – thủy văn; địa chất – khoáng sản; xây dựng bản đồ số quốc gia mở làm nền tảng phát triển các dịch vụ số phát triển kinh tế – xã hội; triển khai các giải pháp thông minh trong quan trắc, giám sát, quản lý, xử lý sự cố môi trường, cảnh báo sớm thiên tai.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp như thế nào?

Chuyển đổi số trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp theo hướng chú trọng phát triển các trụ cột: xây dựng chiến lược và cơ cấu tổ chức thông minh, xây dựng nhà máy thông minh, vận hành thông minh, tạo ra các sản phẩm thông minh, xây dựng dịch vụ về dữ liệu và phát triển kỹ năng số cho người lao động.

Cục Tin học hóa – Bộ TT&TT

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/chuyen-doi-so-trong-tung-nganh-linh-vuc-nhu-the-nao-683549.html

CHUYỂN ĐỔI SỐ LÀ TẦM NHÌN ĐỂ QUỐC GIA HƯNG THỊNH

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng đất nước phải ổn định để phát triển, muốn phát triển thì động lực quan trọng nhất là phải sử dụng công nghệ, nhất là công nghệ số.

Phá hủy tư duy cũ

Cho dù khí thế chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam, song nhiều người vẫn băn khoăn với câu hỏi “Liệu Việt Nam có tận dụng được cơ hội này hay không?”.

Ông Lê Đăng Dũng, quyền Chủ tịch Viettel cho rằng, để tham gia vào cách mạng 4.0, chúng ta phải phá hủy nhiều thứ đã tồn tại trước đó. Muốn thế, tư duy phải rất mạnh dạn, chấp nhận phá hủy những cái đã có. Chính sách và thể chế phải chấp nhận cái mới. Điều này nói có thể đơn giản và cũng đang được nói nhiều nhưng thực thi trong thực tế còn chậm. Ví dụ, khi chúng ta muốn thúc đẩy ngân hàng số nhưng đường đi và thể chế cho nó thì vẫn còn bàn cãi rất nhiều.

Chuyển đổi số là tầm nhìn để quốc gia hưng thịnh
Thiếu tướng Lê Đăng Dũng, quyền Chủ tịch Viettel

“Để điều hành xã hội số, bắt buộc phải xây dựng Chính phủ số. Trong cuộc cách mạng 4.0, người dân đang đi nhanh hơn vì lớp trẻ tiếp cận cái mới rất nhanh và 4.0 đúng là giúp con người rất nhiều trong sinh hoạt, chữa bệnh, học tập, kinh doanh… Nhưng nhiều khi áp dụng thì lại vướng thể chế, chính sách. Nếu làm tốt phần này thì chắc chắn xã hội sẽ đi nhanh. Theo đó, Viettel đặt cho mình 2 nhiệm vụ: Tạo ra các sản phẩm chuẩn công nghệ 4.0 theo đúng định hướng của mình, hai là thể hiện tiếng nói và góp phần thúc đẩy thể chế đi nhanh hơn, Chính phủ số đi nhanh hơn”, ông Dũng chia sẻ.

Theo ông, nếu mỗi ngày thức dậy mà vẫn nói chúng ta đang ở xuất phát điểm trong cuộc cách mạng lần thứ 4 này thì nghĩa là chúng ta đã chậm với thế giới rất nhiều. Cứ mỗi tháng trôi đi, nửa năm trôi đi thì thế giới đã đi rất xa. Chính vì vậy, để không đánh mất cơ hội của chính mình cả xã hội từ chính phủ đến các doanh nghiệp không chỉ có quyết tâm cao mà cần có hành động cụ thể để chuyển đổi số.

Bình luận về cơ hội chuyển đổi số, ông Trương Gia Bình, Chủ tịch FPT cho hay, chuyển đổi số quốc gia là chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế, doanh nghiệp; chuyển đổi toàn bộ xã hội sang xã hội số nhằm mục tiêu tăng năng suất lao động, thay đổi toàn diện cơ cấu việc làm, tạo ra động lực tăng trưởng vượt bậc cho đất nước.

Nhà lãnh đạo số là những người biết sử dụng các công nghệ mới nhất của cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 để hỗ trợ cho hoạt động trí óc của mình. Nhà lãnh đạo hiện nay ai cũng cần phải chuẩn bị cho mình một kỹ năng số để đổi mới sáng tạo, đào tạo máy móc nhanh chóng phục vụ cho doanh nghiệp của mình bởi “tốc độ” là triết lý thành công của cuộc Cách mạng 4.0.

Theo ông Trương Gia Bình, một nhà lãnh đạo số cần phải biết được 3 năm tới, trong không gian số thì mình đang ở đâu và những cái gì trong năm đầu tiên chuyển đổi số mình phải làm xong. Quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam chỉ diễn ra trong vòng 15 năm tới nên các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần nhanh chóng nắm bắt cơ hội này để phát triển và thay đổi mình. “Nếu không thành công trong giai đoạn này, chúng ta sẽ phải đổi mặt với dân số già, nghèo đói và môi trường bị hủy hoại”, ông Bình cho hay.

Chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp ICT mới đây, ông Nguyễn Huy Dũng, Cục trưởng Cục Tin học hóa, Bộ TT&TT nhấn mạnh rằng, chuyển đổi số chính là cuộc chuyển đổi từ không gian quen thuộc truyền thống (mặt đất, biển, bầu trời, vũ trụ) lên không gian mạng.

Chuyển đổi đầu tiên là mức độ số hóa thông tin. Cao hơn nữa là số hóa một quy trình nghiệp vụ và mức cao nhất là mang cơ quan, tổ chức từ môi trường truyền thống lên môi trường mạng. Tiến trình chuyển đổi số có điều kiện diễn ra nhanh hơn trong 5 năm gần đây do cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Tổ quốc có phát triển mạnh hay không là do áp dụng công nghệ

Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đã bắt đầu, đặc biệt trong một số ngành như tài chính, giao thông vận tải, nông nghiệp và du lịch…

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: “Chính phủ coi kinh tế số là động lực quan trọng phát triển để đưa Việt Nam tiến nhanh, đi tắt trong phát triển”.

Chuyển đổi số là tầm nhìn để quốc gia hưng thịnh
Nhà máy thông minh

Theo Thủ tướng, đất nước phải ổn định để phát triển, muốn phát triển thì động lực quan trọng nhất là phải sử dụng công nghệ, nhất là công nghệ số. Tổ quốc có phát triển mạnh mẽ hay không là ở việc áp dụng công nghệ.

Việt Nam sẽ trở thành quốc gia số

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 vừa được Thủ tướng phê duyệt, với tầm nhìn đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới.

Chương trình xác định tầm nhìn đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. Chương trình này hướng tới mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu.

Về phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, các mục tiêu đến năm 2025 là đưa kinh tế số Việt Nam chiếm 20% GDP. Cùng với đó, Chương trình cũng hướng tới mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về CNTT, nhóm 50 nước dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh và thuộc nhóm 35 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo.

Đối với phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, các mục tiêu cơ bản đến năm 2025 sẽ có hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã, phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh và có tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 50.

Thái Khang

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/viet-nam-hung-cuong/chuyen-doi-so-la-tam-nhin-de-quoc-gia-hung-thinh-687604.html

CMC TS, SAMSUNG SDS VÀ HPE GIỚI THIỆU GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CHO NHÀ MÁY THÔNG MINH

Hội thảo trực tuyến về nhà máy thông minh “Manufacturing Innovation 2020” vừa được CMC Technology & Solution phối hợp với Hewlett Packard Enterprise và Samsung SDS phối hợp tổ chức đã diễn ra với sự tham gia của hơn 150 khách hàng trên nền tảng Microsoft Teams.

Hạ tầng siêu hội tụ của HPE cho nhà máy thông minh

HPE là hãng sản xuất phần cứng và đã kết hợp với nhiều hãng công nghệ khác để phát triển hệ thống nhà máy thông minh. HPE cung cấp cung cấp đầy đủ giải pháp từ đầu đến cuối, từ phát triển sản phẩm, vận hành, kiểm soát chất lượng đến đảm bảo an toàn cho hoạt động nhà máy.

Ông Sapan Kumar, Trưởng nhóm Giải pháp dành cho khối Sản xuất và AI, HPE Khu vực Châu Á Thái Bình Dương đưa ra ví dụ về dự án nhà máy thông minh mà HPE đã triển khai cho một nhà máy tại Mỹ.

Ở giai đoạn tổng hợp và phân tích dữ liệu, HPE có dòng sản phẩm GL10/20 hoặc Edgeline EL3000 có thể gắn đầu thu cảm ứng (sensor). Dòng máy này của HPE có khả năng chịu được môi trường khắc nghiệt, nhiệt độ cao như ở ngoài trời mà không cần đặt trong một trung tâm dữ liệu.

Dữ liệu sau khi được thu thập đầy đủ sẽ gửi về trung tâm dữ liệu. Tại đây, dữ liệu được phân tích, mô phỏng và đưa lên báo cáo dashboard, giúp lãnh đạo nhà máy có cái nhìn tổng quan về hoạt động của nhà máy và đưa ra quyết định phù hợp. Thiết bị trung tâm dữ liệu của HPE gồm dòng máy chủ Edgeline EL4000. Nếu nhà máy không có điều kiện xây dựng một trung tâm dữ liệu hoàn chỉnh, HPE có khả năng xây dựng một trung tâm dữ liệu di động với kích thước chỉ lớn hơn một tủ rack nhưng bao gồm đủ tất cả các thành phần để gắn các thiết bị IT trong đó.

Ông Sapan nhấn mạnh một số giải pháp có thể triển khai ngay như video analytics (phân tích hình ảnh video), giúp doanh nghiệp kiểm soát người lao động tuân thủ điều kiện an toàn làm việc hay kiểm soát ra vào trong nhà máy. Hệ thống phân tích hình ảnh của HPE có sử dụng những camera có độ phân giải tốt với ống kính hiển vi, có thể phát hiện những lỗi siêu nhỏ lên đến 0,1mm trong sản phẩm.

Giải pháp nhà máy thông minh tăng hiệu suất cho nhà máy

Trong hội thảo, CMC TS và Samsung SDS đã giới thiệu về giải pháp nhà máy thông minh Samsung Intelligent Factory, trong đó tập trung vào nền tảng Samsung Nexplant và phần mềm quản lý điều hành sản xuất Nexplant MES (Manufacturing Execution System). Từ tháng 6/2018, Tập đoàn CMC đã ký kết hợp đồng hợp tác chiến lược với Samsung SDS. CMC sẽ phụ trách việc triển khai giải pháp quản lý và điều hành nhà máy thông minh MES của Samsung SDS cho các khách hàng tại Việt Nam cũng như trong khu vực.

Theo chuyên gia của Samsung SDS, sự phát triển của nhà máy có thể chia thành 5 cấp độ. Ở cấp độ đỉnh cao nhất của một nhà máy là sản xuất thông minh (Intelligent Manufacturing), các máy móc được điều khiển tự động, hầu như không còn yếu tố con người, các dữ liệu được phân tích và phỏng đoán thường xuyên nhờ ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ 5G,…

Phần mềm quản lý điều hành sản xuất MES (Manufacturing Execution System) thuộc nền tảng Samsung Nexplant. Samsung Nexplant là nền tảng chuyển đổi số ứng dụng trí tuệ nhân tạo gồm 3 yếu tố: Trí tuệ sản xuất, Trí tuệ quản lý vật liệu và thiết bị, Trí tuệ nhà máy. Bộ giải pháp này của Samsung SDS phục vụ hầu hết các hoạt động vận hành của nhà máy.

MES là hệ thống quản lý sản xuất tổng hợp tập trung vào việc điều khiển, giám sát thời gian thực, quản lý lịch sử công việc và lưu thông hàng hóa, nắm bắt tình trạng, quản lý hàng lỗi… MES giúp các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ giải quyết được vấn đề chi phí sản xuất, giảm thiểu sai sót khi quản lý bằng tay, từ đó không chỉ cải thiện công đoạn sản xuất mà còn đưa ra quyết định tối ưu để quản lý vận hành sản xuất.

Trước thực tế nhiều nhà máy tại Việt Nam vẫn còn đang loay hoay chưa biết bắt đầu xây dựng nền tảng nhà máy thông minh từ đâu, giải pháp toàn diện từ hạ tầng cho đến giải pháp, từ tư vấn đến triển khai do CMC TS, HPE, Samsung SDS cung cấp sẽ là một lựa chọn giúp doanh nghiệp sản xuất tăng tốc chuyển đổi số.

Tổng Công ty Công nghệ và Giải pháp CMC (CMC Technology & Solution) là doanh nghiệp chiến lược và dẫn đầu của Tập đoàn CMC trong việc cung cấp các giải pháp, dịch vụ tổng thể về công nghệ thông tin.

Hiện nay, CMC Technology & Solution đang tư vấn, cung cấp và triển khai dịch vụ IT cho hơn 3000 khách hàng là các Bộ ban ngành, hiệp hội, doanh nghiệp lớn tại hơn 63 tỉnh thành trên cả nước và là đối tác chiến lược của hơn 40 hãng công nghệ hàng đầu thế giới. Xem lại bài trình bày hội thảo tại fanpage CMC Technology & Solution: https://bit.ly/2ygEhys

Nguồn: https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/cmc-ts-samsung-sds-va-hpe-gioi-thieu-giai-phap-toan-dien-cho-nha-may-thong-minh-62725.html

 

Đăng ký nhận thông tin